Võ Sư Hàng Thanh Phương Thái Không Đại Sư
Tự Luyện Thiết Sa Chưởng
GS Hàng Thanh
Phương Thái Không Đại Sư
Nhà Xuất Bản Võ Thuật
Lời Tựa
Rừng văn, biển võ… Người có chí đến mấy học hết trăm năm chưa gọi là
cùng. Một vị Thiền Sư nói với các môn đệ rằng : « Về võ học, học ít biết
ít, học nhiều biết nhiều, vô cùng vô tận ». Xem thế quả kiến văn của
ông vượt hẳn nhiều vị võ sư đồng đạo hiện thời.
Xét lại nhân tài đưng thời quả khó phân khó định, kẻ cao chiêu này,
người giỏi thế nọ, bài bản, môn trường dị biệt. Học trò ai khen thầy nấy
là lẽ thường. Nhưng gẫm công phu hàm dưỡng cho có căn bản thì mấy ai
được mười phần hiểu biết hay sở luyện đến nơi đến chốn để có thể làm
rạng danh môn phái bằng con đường chân chánh.
Sách xưa có dạy luyện quyền đến già đời mà không luyện công phu thì đến
cũng coi như chỉ đạt được có mấy thành. Đến nay điều dạy bảo nầy được
chứng nghiệm quá rõ, nhiều vị lão sư thân hữu đã thú nhận rằng mình lão
nhược lắm rồi phải chi lúc nhỏ chịu luyện công phu thì lúc già đời cũng
còn hữu dụng.
Tình cảnh các võ sư VN cũng trong hoàn cảnh như thế, chẳng mấy người có
công phu để mà dưỡng lão. Về phần truyền bá lại càng ít ỏi hơn, trong
khoảng 40 đến 50 cuốn sách viết về võ học các môn phái trong đó có Quyền
sư Phan Chấn Thanh, Giáo sư Hàng Thanh đã chiếm hơn 3O quyển rồi, các
tàc giả khác hoặc viết hoặc dịch thuật mỗi người một hai quyển, tất cả
đều cũng chỉ chuyên chú trình bày cách thức luyện tập các bài bản Thập
bát ban võ nghệ, tuyệt không thấy trình bày một bộ môn luyện tập công
phu chân truyền. Âu đó cũng là một thiếu sót lớn lao cho nền võ học nghệ
thuật bản xứ và thế giới nói chung.
Vì nhận thấy chỗ khiếm khuyết có lẽ còn lâu mới có người bổ túc tôi mạo
muội đứng ra thu góp trình diện cùng đồng đạo chút tài liệu, ý những
mong sự đóng góp nầy làm được lợi ích phần nào cho chư huynh đệ đồng đạo
võ lâm trên đường học luyện võ nghệ thênh thang.
Đó là việc trình bày PHƯƠNG PHÁP LUYỆN THIẾT SA CHƯỞNG, môn công phu rất
dễ luyện, hợp với tất cả môn sinh mọi môn phái, mà sự thành công trên
phương diện công phu đả thương được coi như hoàn toàn hiệu quả mỹ mãn.
Người luyện thành công phu nầy ắt là không đến nỗi mang tiếng là uổng
phí cuộc đời luyện tập như những vị võ sư cao niên thường than phiền.
Một điều đáng lưu ý để tránh sự hiểu lầm, cuốn sách nầy một phần công
lao phải kể là của Hồ quyền sư xứ Hương Cảng, thứ đến tôi soạn lại và
thêm thắt đôi điều, bớt đi đi chỗ cho được như ý và tiện việc cùng bổ
ích trong lúc nghiên cứu học hành của môn sinh. Tôi nghĩ với
tôn chỉ nhằm giúp đời truyền bá nghệ thuật nên không ngần ngại cho ấn
hành trong lúc chưa kịp diện kiến cùng Hồ võ sư để thảo luận. Tôi mong
rằng chư huynh đệ và Hồ tiên sinh niệm tình bỏ điều chê trách.
PHƯƠNG THÁI KHÔNG Đại sư
Cẩn bút
CHƯƠNG I
NGUỒN GỐC MÔN THIẾT SA CHƯỞNG
Tính đến nay, nhân tài thành tựu về môn Công phu Thiết Sa Chưởng có đến
như cát sông Hằng Hà bên Ấn Độ hay sông Cửu Long VN, nhưng tuyệt nhiên
chưa bao giờ cũng như chưa có ai biết đích xác thời đại và ông tổ sáng
lập môn phái. Dù vậy những kết quả chứng nghiệm được đã làm cho môn sinh
thành tựu vang danh trong chốn giang hồ đã cho giai cấp võ sĩ hăng say
rèn luyện. Trong khi đó nhiều giả thuyết, tích được lưu truyền như nguồn
lịch sử của bản môn.
Các võ gia hữu học thường căn cứ vào những tài liệu như bản thảo, sách
bí lục Nội Công, Dịch Cân Kinh, vv… của Thiếu Lâm tự : (quyển Chân kinh
nầy khắc trên gỗ vào đời của Gia Khánh nhà Thanh) trong sách có đoạn dạy
cách luyện Thủ Công (tức công phu đôi tay) và cũng ghi kỷ lưỡng cách
luyện đôi chưởng. Với tài liệu này giới Võ Thuật xem như một khám phá xa
xưa nhất về Võ học được viết bằng văn tự nói về cách luyện đôi Chưởng.
Một đoạn trong sách mộc bản ghi... “Sau khi hành công, đến phần luyện
tay, phương pháp này thường phải dùng nước đun (nấu) nóng, rồi cho tay
vào mà ngâm luyện. Ban đầu nước chỉ hơi ấm ấm, dần dà thời gian sau nước
được nóng hơn, đến sau cùng nước nấu sôi vẫn cho tay vào tẩm luyện.
Khi rút tay ra khỏi cho nước sôi dùng ngâm luyện thời những giọt nước
còn đọng lại trên da không được lau khô đi, cứ để cho nước tự rút khô
trên tay. Và khi luyện công thần phải yên tĩnh, ý chí tập trung chuyển
ra bàn tay rồi ra các đầu ngón tay. Đó gọi là Pháp môn gây sinh lực cho
đôi chưởng.
Ngoài ra còn phương pháp dùng đậu đen và đậu xanh đổ chung vào chảo lớn
rồi cũng đun nóng dần như nước, cũng chọc tay vào luyện công cho đôi
chưởng.
Phương pháp thứ nhất dùng nước sôi ngâm luyện đôi chưởng được coi như làm điều hoà khí huyết trong châu thân.
Phương pháp thứ nhì với hai thứ đậu, theo lời truyền tụng có tánh chất
khử độc hỏa do luyện công mà sinh. Nói chung có hai phương pháp chủ đích
vẫn là rèn luyện cho đôi tay trở thành sắt thép.
Cũng theo sách xưa truyền lại thì cả hai phương pháp luyện chưởng trên
nếu người năng luyện tập trong thời gian lâu dài thì khí tích sẽ dồn về
hai tay, do đó tay sẽ rắn chắc như sắt thép, gân cốt cứng cáp vô cùng.
Nhưng, điều cần thiết để công phu không bị suy giảm là phải năng luyện
tập và sử dụng.
Khi trui luyện đôi tay đến mức độ tinh vi thì tự nó cứng chắc có thể
chọc lủng tường gạch, vách cây, làm tan đá lớn, và trong cuộc giao đấu
không thể có nhân sự đón đỡ nổi. Sức mạnh khủng khiếp đó là tự phát sinh
trong xương cốt do sự trui luyện có phương cách mà ra ...”
Xem đoạn văn trích từ bản Dịch Cân Kinh ta thấy môn công phu luyện cho
tay cứng chắc thường được người đời gọi là Thiết Sa Chưởng, âu cũng là
từ chỗ gốc Thiếu Lâm sinh ra. Tuy nhiên cũng còn những dữ kiện khó mà
xác định cho khỏi phần lệch lạc.
Riêng ý kiến của tôi (Phương Thái Không) thì cây có cội nước có nguồn.
Võ học cổ cựu khởi sự phát sinh từ Ấn Độ và bành trướng và thăng hoa tại
Trung quốc mấy ngàn năm, trong thời gian lịch sử vàng son của nền võ
thuật môn Thiếu Lâm do Bồ Đề Đạt ma truyền có nhiều lai lịch. Chính nơi
cửa Thiền đã đào tạo cho đời nhiều anh tài kiệt liệt và cũng đã sản xuất
nhiều vị Đại Tăng tài trí hơn đời. Có thể chính nơi môn phái có nhiều
lai lịch nầy đã truyền lại cho đời môn công phu hữu dụng nầy.
Và sau hết có điều tôi muốn mọi người ghi nhận là dù thế nào đi nữa
(lịch sử đúng hay sai cũng không quan hệ) thì việc cố công rèn luyện
thành công pháp Thiết Sa Chưởng vẫn là điều cần thiết và hữu ích nhất
trong mọi trường hợp và mọi thời đại.
Sở dĩ tôi thêm mấy câu dường như ngoại ý là vì thời đại 1972 tại nước VN
chúng ta, trong mọi lãnh vực người ta thường mang một thứ bệnh không
chữa được, đó là “Bệnh nói nhiều mà không làm được”. Mà theo như bản ý
cũng là lời dạy của Tổ sư thì người luyện võ : “Nói nhiều không bằng
luyện nhiều, luyện nhiều không bằng suy nghĩ nhiều”. Nói như thế có
nghĩa, trước phải rành lý thuyết, kế tập tinh hoa những gì học được, sau
hết quán tưởng những điều đã học để thấu đáo tận gốc, hiểu theo Khổng
Khâu tiên sinh là Trí Tri, thế mới gọi là đến nơi đến chốn trong đạo
nghề võ mà Tổ sư tâm truyền.
Mong rằng sách nầy ra đời thì có hậu sinh đọc được và làm được những gì
đã nói trên đây và sau đây. Được như thế thì người bỏ công soạn sách và
tiền nhân đã vui lắm rồi vậy.
CHƯƠNG II
SỰ QUAN HỆ GIỮA LUYỆN QUYỀN VÀ LUYỆN CÔNG
Ngạn ngữ có câu :
Luyện quyền bất luyện công
Đáo lão nhất trường không
Có nghĩa là luyện quyền chưởng mà không chú tâm luyện công lực thì dù có tập đến già đời cũng trở thành vô dụng.
Trong võ học, Quyền là kỹ thuật nhằm chú trọng sự khéo léo của tay chân,
còn Công lực mới chính là căn cơ để quyết định khi ứng dụng mọi thế võ
mọi bài quyền.
Như vậy, nếu có chút kỹ thuật quyền cước thì tất phải có chút ít công
lực để hổ trợ làm tăng hiệu quả công phu võ học, và chính chỗ đó mới
mong chế ngự được kẻ đối thủ cường địch.
Cho nên nếu chỉ học quyền thôi, chỉ múa men không có công lực thì cầm
bằng hữu danh vô thực, không ích lợi gì trong việc cứu mình giúp đời,
suốt đời chỉ biết múa men huê dạng cbo người xem chơi.
Vì chỗ tối yếu của Công lực mà từ xưa đến nay các võ gia, danh sư hữu
học đều chú trọng cả hai, luyện quyền và luyện cả Công lực, cũng như
suốt đời không dám xao lãng.
Vậy Công phu là gì ?
Theo danh từ võ học lược giải của Giáo sư Hàng Thanh thì : Công phu hay
Công lực gồm có Nội Công và Ngoại Công hay còn gọi là Nhuyễn Công và
Ngạnh Công. Nội Công là phép luyện vô hình dẫn lực, Ngoại Công là phép
luyện hữu hình hữu lực...
Nói rõ hơn, Nội Công vô hình lấy việc luyện khí làm cốt yếu, tức luyện
dẫn khí trong cơ thể. Ví như môn Tọa thiền của Thiếu Lâm, môn Đạo Dẫn
của Võ Đang v.v… Môn võ học cao tuyệt này rất thâm thúy khó học, không
có danh sư hướng dẫn khó bề luyện tập thành tựu được. Môn Ngoại Công hay
Ngạnh Công là môn võ Hữu hình, lấy việc luyện kình lực làm chủ đích,
tức luyện cho gân cốt bên ngoài cho đặng cứng chắc, đó cũng là môn võ
học mang tên Thiết Sa Chưởng tôi đang trình bày.
Cả hai môn võ học tối thượng nầy khi luyện thành đến chỗ tinh diệu của
nó thì khi vận chuyển hơi khí thì toàn thân sẽ thành cứng rắn như tường
đồng vách sắt không hề sợ gươm đao chạm vào da thịt.
Như dẫn giải trên, Nội Ngoại công chia ra làm hai trường phái : Nhuyễn
công và Ngạnh công. Đối với việc tập luyện thì Nhuyễn Công khó luyện
hơn, lối tập luyện nầy được coi là luyện Âm Kình, khi luyện thành lúc đả
thương thì bên ngoài chẳng thấy đấu tích gì nhưng bên trong bị tan nát
gân thịt, phế phủ. Đôi khi xuất thủ chưa chạm đến thân mà đối phương đã bị
thương trầm trọng hoặc đã tán mạng rồi. Sự lợi hại âm kình của Nội công
hay Nhuyễn công là như thế. Môn võ công nầy được tiêu biểu trong phép
luyện Khinh thân Công pháp, và võ công Chu Sa Chưởng v.v... rất khó
luyện.
Riêng Ngạnh công thì rất dễ luyện, bởi vì loại công phu nầy thuộc về
Dương kình. So bề lợi hại về sức tàn phá của môn Dương kình thì không
bằng âm kình, nhưng sự lợi hại về sức tàn phá của Dương kình cũng rất
khủng khiếp.
Một điều đáng mừng cho độc giả (môn sinh không có thầy) là môn Dương
kình rất dễ luyện, dù rằng không có chân sư chỉ dạy mà chỉ cần đọc sách
rồi chuyên tâm trì chí luyện tập lâu ngày sẽ tbàlth công. Vì lẽ giản dị
dễ học như thế nên môn sinh của học phái Dương kình rất đông ví như
Thiết bích công, Tiên nhơn chưởng, v.v…
Riêng Thiết Sa Chưởng là môn Ngạnh công, tuy nhiên trong cách tập công
như khi thành tựu, lúc phát kình Dương lực có mang phần nào tánh Âm kình
thành thử dưới mắt võ lâm cao nhân môn võ học rất được mọi người khen
ngợi và cổ súy rèn luyện.
Một câu chuyện được giới võ thuật tại Trung Quốc thường nhắc đến như một
giai thoại võ học, chúng tôi xin kể ra đây để độc giả thấy sự lợi hại
về công lực của phép luyện Kình khi đã đến chỗ thành tựu.
Vào năm Dân quốc thứ 17 (1929), một đanh sư võ học tên Cố Mi Chương một
hôm dạo chơi xứ Quảng Đông gặp một lực sĩ người Nga to lớn đang bày trò
mãi võ tại đất Quảng mà con ngựa của người Nga là một võ sĩ rất lợi hại.
Người Nga đại lực sĩ rất tự đắc dẫn con thần mã giới thiệu với quần
chúng, đây là con ngựa thần rất hung dữ, không ai có thể hàng phục nó
được mà chỉ có Đại lực sĩ Nga là khống chế nó dễ dàng, ngay trong lúc nó
nổi điên. Thật ra thì ngựa nào chủ nấy, hắn đã huấn luyện con ngựa dữ
đã thuần theo ý hắn, con ngựa biết tránh né và phản kích với đối thủ của
nó, và luôn luôn tỏ ra hung hăng ngoại trừ chủ nó. Cho tới buổi hôm đó
tại đất Hồ Quảng đã có nhiều vị võ sư xứ Quảng đã bị ngựa đá trọug
thương. Cố Mi Chương mang mối bất bình, phần động lòng tự ái quê hương.
Cố Mi Chương vào trường đấu với ngựa dữ. Con ngựa quả tinh khôn và kiêu
dũng, võ sư Cố Mi Chương cùng ngựa thần quần thảo đến ba phút, và một
thoáng nhanh như điện, vị võ sư đã phát vào lưng ngựa một chưởng làm
ngựa thần hí lên một tiếng khủng khiếp rời ngã khụy xuống đất, chẳng mấy
chốc nó trào bọt mép và chết hẳn. Người Nga biết mình không địch lại vị
võ sư lỗi lạc này nên nhân lúc bộn rộn thu gọn hành trang lẫn đi mất
dạng. Người ta xem xét xác ngựa thì bên ngoài chẳng thấy dấu tích chi để
khẳng định là ngựa đã thọ thương, người ta mang ngựa xẻ ra mới hay lá
gan ruột con ngựa đã nát bấy vì phát chưởng của vị võ sư họ Cố. Bấy giờ
người ta mới biết rõ là võ sư họ Cố đã dùng môn võ học Âm Kình thượng
thừa để giết ngựa, bảo vệ danh dự cho xứ Quảng. Trong trường hợp nầy nếu
dùng Dương Kình đả thương ngựa thì bên ngoài tất có dấu vết dập bể, mà
bên trong xương cốt ngựa cũng bể nát. Xem thế mới biết Âm Kình rất đổi
lợi hại khó dễ đo lường.
CHƯƠNG III
SỰ QUAN HỆ VỀ TUỔI TÁC KHI LUYỆN THIẾT SA CHƯỞNG
Thầy dạy võ xưa thường bảo : « Tập luyện võ công cốt ở chỗ trường kỳ
cố gắng, lâu ngày ắt được thành công. Bởi thế tuổi tác không phải là hạn
chế hay cốt yếu mà điều cần biết được coi là bền chí theo đuổi lâu dài
».
Tuy nhiên trong võ học có vài môn công phu cũng cần một vài điều kiện
tiên quyết, như việc luyện tập môn « Tráng khí công ». Muốn luyện môn
công phu nầy phải là một đồng nam, và tuổi không quá 20 thì việc rèn
luyện mới thành tựu được.
Lý do chánh yếu cần đến tuổi đồng nam vì trong tuổi đồng nam tâm hồn
còn trong sạch không có nhiều tạp niệm, trừ việc ăn ngủ (thanh niên bây
giờ, nhất là nơi thành thị và các nước văn minh, thị dục và sinh lý đa
số phát triển sớm và được xã hội tệ hại hướng dẫn nên thường hư hỏng
ngay từ thuở 14, 15, hạng nầy không thể luyện được bất kỳ thứ võ công
nào) nên dễ luyện Tráng khí công. Hơn nữa với tuổi đồng nam cơ thể con
trẻ còn Thuần Dương, tâm trí dễ tập trung vào một nơi khiến cho thần khí
sung mãn càng dễ đạt kết quả trong việc tu tập môn võ công nầy.
Những người thành niên (Âm Dương điều hòa) bởi bị thất tình ngoại
cảm, lục dục nung nóng nội tâm khiến cho tạng phủ bị ảnh hưởng không tốt
thành dễ vấp phải chứng « ngoại ma, nội tà, tâm hồn không thuần khiết,
tất là khó luyện thành môn công phu Tráng khí ». Đây là trường hợp ngoại
lệ có giới hạn tuổi tác.
Phép luyện Nội công trước nhất là diệt lòng tà niệm (nghĩ bậy) để tâm
hồn trở nên tỉnh táo sáng sủa sau đó mới thi bành những tư thế quy nạp
khí lực. Bởi chỗ tâm hồn không mấy trong sạch, trí não bận việc buồn vui
nên người thành niên khó bề luyện thành môn Nội công. Nhưng nếu kẻ có
chân tu trường kỳ tĩnh luyện cho tâm hồn trở nên thuần khiết, ý tưởng
tập trung, bỏ được tạp niệm thì công việc tu luyện tiếp phần nội công
cũng không phải là điều khó. Một ví dụ là Giáo Sư Hàng Thanh, đệ nhị đại
đồ đệ của Thiền sư Thiện Tâm, hiện mang đẳng cấp đệ thất đẳng huyền
đai, lúc gặp chân sư thì đã gần 30 tuổi, thế mà sau sáu năm tu tập môn
Khí công đã chứng nghiệm được kết quả đáng kinh ngạc : cánh tay của GS
đưa ra mềm mại không dẫn lực thế mà hơn sáu bảy người có trình độ vẫn
không thể làm cho cánh tay gập lại. Chúng tôi đã được GS biểu diễn cho
xem trong kỳ đại hội của Tổng Hội Dịch Lý Việt Nam năm 1972. Ngoài việc
GS thổ nạp chân khí thiên niên để có sức mạnh vạn năng, nghe đâu GS còn
tập được nhiều công phu cao thượng mà đời nay cho đến người tuổi tác vẫn
chưa ai đắc ngộ. Đó cũng là một kỳ duyên hạnh ngộ cho Giáo sư. Theo chỗ
được biết qua những sư huynh đệ của Giáo Sư thì Giáo sư thường trường
trai và tĩnh luyện, đời sống thật là đơn giản.
Thí dụ trên cho chúng ta thấy cuộc đời và thành quả của một cao thủ
(GS Hàng Thanh) đã thành tựu môn Nội công lúc tuổi tác trên dưới 40, như
vậy việc tu tập nội công cũng có thể thành tụ được đối với những người
lớn tuổi dù rằng hơi khó.
Tuy nhiên, việc tu luyện về công phu thì rất dễ dàng, không đòi hỏi
tâm hồn hiệp nhất, việc tập trung tinh khí thần. Người thanh niên lại
càng dễ thâu nhận kết quả hơn những người đồng nam hay nữ. Vì, việc tu
luyện môn Ngạnh công đòi hỏi thể chất phát triển đúng mức. Và nhờ cơ thể
đã phát triển hoàn bị nên dễ chịu đựng được những khổ hạnh trong lúc
luyện công mà không hoặc đã có ít ảnh hưởng đến sự phát triển sinh lý có
hại cho cơ thể tuổi vị thành niên.
Cổ nhân thường bảo : « Phàm nhân hữu khí tức hữu lực, hữu lực tức
năng luyện công giả », nghĩa là phàm con người có hơi thì có sức, mà có
sức thì có thể rèn luyện võ công được ».
Đối với những người thường hay đau yếu, cơ thể bẩm sinh suy nhược thì
cũng không thể luyện Ngoại công được vì như thế sẽ có điều di hại cho
sức khỏe không ít. Như vậy cũng là đáng buồn cho những người bẩm sinh
căn cơ không có, nhưng cũng có thể từ từ mà cải biến thể chất bằng cách
rèn luyện cơ thể điều dưỡng cho thân thể được tráng kiện bằng thuốc
thang hoặc ẩm thực trị liệu, sau đó tập dần dần, dù lâu hơn người bình
thường nhưng rồi cũng có ngày đạt được thành quả đáng ngạc nhiên. Nếu
không có những trường hợp như thế thì câu « Có chí thì nên » hoặc « Có
công mài sắt có ngày nên kim » hóa ra không đúng sao.
Đối với tác giả thì :
Hữu sinh tất hữu diệt
Mà hữu luyện tất hữu thành. Ngẫm nghĩ xưa nay mọi việc đều không
ngoài ý ấy. Vậy độc giả đừng lo ngại vì mình yếu ốm quá để bắt đầu luyện
tập môn Thiẽt Sa Chưởng. Hãy bắt đầu từ từ và trường kỳ luyện tập. Mức
thành công chỉ với một tầm tay không có gì là khó.
CHƯƠNG IV
CÁCH DÙNG THUỐC KHI LUYỆN CÔNG PHU
Luyện công tức là làm một môn thức nào đó cho thân thể mỗi ngày tăng
thêm phần tráng kiện, cho nên một khi con người đã đủ tráng kiện thì
việc luyện công là thừa hay phản lại tự nhiên. Đó là lý luận thông
thường, đối với nghề võ có khác, người luyện võ đi tìm những điều mới lạ
gần tự nhiên trong những điều mất tự nhiên. Ví như việc tập Thiết Sa
Chưởng, người luyện lấy chỗ mềm yếu của da thịt để thi thố cùng cái dẻo,
cứng của sa sắt.
Vì lẽ đó khi hành công luyện pháp không có sự hổ trợ của thuốc thang
thì làm sao tránh khỏi những thương tích làm trở ngại cho việc tu luyện
thường xuyên. Nhờ có thuốc thang, máu không bị ứ đọng, nhưng tụ, da thịt
không bị sưng bầm đau đớn thái quá. Nếu người tập xuẩn động không chịu
biết đến thuốc thang thì máu huyết ngưng tụ nơi tay làm cho hai tay bị
thương tổn, dần dà bị hủy hoại hoặc thương tổn đến tạng phủ vì sự chấn
động do tập luyện sai sách.
Để có thể thành tựu môn công phu chân chính Thiết Sa Chưởng, người
luyện phải dùng những dược liệu chân truyền, xoa hoặc ngâm đôi tay theo
những giờ khắc nhất định để cho dược chất đủ ngấm vào bên trong da thịt,
để có những va chạm mãnh liệt từ bên ngoài tới đôi tay đã được dược
liệu hổ trợ đề kháng những tệ hại có thể xảy ra như tay khỏi sưng bầm,
tụ máu, rách da, trật xương.
Sau khi luyện công còn phải ngâm tay vào dược chất để cho da thịt xương cốt cứng chắc thêm lên và sự thành công mau đến hơn.
Đối với người luyện Thiết Sa Chưởng, thuốc là yếu tố tối cần thiẽt,
không thể thiếu trong mỗi buổi luyện công. Trái lại sẽ gặt hái những hậu
quả vô cùng tai hại.
Theo võ thư, võ dược chia làm ba loại :
1) Dược tửu (thuốc rượu)
2) Dược xú (thuốc dấm)
3) Dược thang (thuốc thang).
Theo kinh nghiệm của tôi trong nhiều năm dùng thuốc thì loại dấm
thuốc tay tốt nhưng vì là loại chua, dễ nhuyễn hóa chất vôi nên có hại
cho xương. Vì thế trong nhiều trường hợp các võ sĩ vì lạm dựng thuốc dấm
khi đấu quyền, công phá đã bị gảy xương tay, hoặc cong.
Và cho đến nay những bài thuốc ngâm rượu vẫn là sở thích của các nhà
luyện võ chân chính. Đối với rượu có công dụng chỉ thống nghĩa là làm
giảm bớt sự đau nhức, tan máu bầm, không ảnh hưởng làm hư hại chất vôi
trong cơ thể.
Thuốc thang thường cũng đánh tan máu bầm, ứ nhưng chỉ thông cấp thời
không thể nào sánh được với dược tửu. Do đó bao giờ cũng vậy, rượu thuốc
vẫn là món hảo hạng dùng hổ trợ cho sự luyện công.
Tuy thế không phải nghe thuốc rượu là tốt rồi cứ lạm dụng hoặc dã bạ
thang dược nào cũng mang ngâm rượu mà dùng thì chẳng những không thâu
nhận được kết quả tốt đẹp nào còn đôi khi bị hại nữa là khác. Vì thế tác
giả có lời khuyên độc giả hãy cẩn thận, bằng cách nghiên cứu kỷ sau khi
đã biết chắc là thang dược chân truyền mới dùng. Có như thế thì việc
dùng thuốc mới không di hại cho bản thân.
CHƯƠNG V
BA YẾU TỐ QUAN THIẾT CẦN BIẾT KHI LUYỆN CÔNG
Hành công luyện chưởng có ba điều tối cần phải lưu tâm kẻo mai hậu có mắc phải những tệ hại nguy hiểm thì khó bề cứu chữa :
- Tuần tự nhi tiến (tiến bộ dần dần, không nên đi mau).
- Hằng tâm (trì chí luyện tập không bỏ dở).
- Giảm tham nhục dục (tiết dục, hạn chế việc động phòng).
Nói chung, những người chưa bao giờ luyện tập võ nghệ thì toàn hệ
thống mạch lạc gân cốt trong thân thể nếu không đến nỗi khờ khạng không
được linh hoạt thì ít ra cũng không được linh mẫn tinh minh như những
người đã có trình độ võ công. Và đối với những người chưa bao giờ luyện
võ thì việc khởi sự luyện Thiết Sa Chưởng không phải là chuyện thành tựu
dễ dàng. Nếu như muốn luyện thì phải tuần tự từ dễ đến khó, theo sát
từng chi tiết chỉ dẫn, lâu dần gân cốt mạch lạc được linh hoạt thì con
đường thành công mới thấy ở đằng xa. Bằng vô tâm liều mạng ỷ sức tập đại
càng ý mong mau thành đạt thì chỉ rước lấy tai hại mà thôi. Trong những
trường hợp ấy nếu bị thương nhẹ nơi bên ngoài đôi tay thì chỉ gây cho
người tập những tê liệt từng bên hay cả cánh tay, nhược bằng bị thương
nặng, máu huyết tích tụ bên trong gây nên những biến chứng bên trong cơ
thể gọi là bị nội thương, còn gọi là bị ám thương (những thương tích
không lộ ra ngoài). Trong trường hợp cực nặng được mô tả như chấn động
đến tạng phủ thì tánh mạng coi như chỉ mành treo chuông.
Đời nay không thiếu chi những người trai trẻ khí huyẽt cường mạnh hàm
bồ luyện đại Công phu mà không biết đúng sai để rồi thu được kết quả
đáng thương hại là cơ thể bị lao thương, có khi cả đời mang toàn tật
bệnh. Trong những trường hợp như thế nhiều người kém hiểu bảo là con trẻ
tập nhầm môn tà công, võ bất chánh v.v… mà dáng ra chỉ nên trách con
trẻ hoặc người luyện tập thiếu thầy hay hoặc thiếu hiểu biết cách thức
luyện tập tiệm tiến mới ra nông nỗi.
Thuở nhỏ tác giả luyện công chung với người bạn họ Vương, một hôm
người bạn dư sư (dòm lén) luyện chưởng rồi về nhà bắt chước luyện tập.
Sau tôi phát giác là Vương chỉ biết hành công dùng sức mạnh mà chẳng
biết phép vận Kình (sức). Vương chỉ biết gồng cứng tay rồi dang cố lì
đập mạnh vào bao cát, tuyệt nhiên Vương không hiểu là phải làm thong thả
từ từ, buông sức và vổ nhẹ để từ từ tiến đến thành công. Sau vài tuần
Vương đã chặt gảy gạch thẻ, y lại càng đắc ý cho là mình tập đúng sách
nên càng cố chí hỏa tốc rèn luyện ngày đêm. Sau đó hơn tháng Vương ngã
bệnh, phủ tạng bị nội thương, tim bị suy nhược, thầy thuốc khám nghiệm
và cho biết như thế. Thế là Vương nghỉ tập, thế mà thời gian khá lâu sau
bệnh trạng cũng chỉ thuyên giảm một cách hết sức chậm chạp. Và theo lời
y sĩ, Vương sẽ còn phải trải qua nhiều năm tháng mới có thể lấy lại
được sức bình thường như hồi chưa khởi sự luyện Công phu. Thế mới biết
cái liều mạng trong vấn đề võ học thật chẳng có chi là lợi, tác giả chỉ
mong rằng độc giả đừng bao giờ coi việc tập luyện võ công như một trò
chơi giải trí hay một canh bạc. Vì rằng cuộc đời trăm tuổi dù chẳng bao
lâu trước tạo hóa vô cùng nhưng với chừng năm tháng ấy mà biết HƯỞNG thì
nghĩ rằng cũng thú lắm rồi. Việc tu tập tuần tự trăm năm để thành công
cũng không phải là quá lâu đối với con người biết kiên nhẫn.
Cho nên dù đã nắm yếu quyết chân truyền trong tay và biết rõ chìa
khóa Tiệm tiến, Hằng tâm cũng cần phải có chân sư chỉ điểm mới có thể
nắm phần chắc trong việc luyện tập mà những trở ngại mới chắc chắn không
xảy tới một cách đáng thương tâm.
Đến như trong khi tập, hành công thấy khó mà lùi bước, thấy lạ mà ham
mê thái quá, hoặc lấy đầu này ráp đuôi nọ, nửa chừng bỏ dở thì kết quả
cũng chỉ như kẻ chưa hề biết đến công phu là gì vậy thôi.
Mỗi khi tôi tiếp xúc với người ngoài để đàm luận về điều này thì nhận
thấy mười phần đã hết tám chín thuộc về những hạng người trên. Số người
Hằng Tâm để gia công tập luyện cho đến thành công thì thật là hiếm có,
trăm người không được một. Đó là tại bởi đâu ? Võ công khó luyện quá mà
nên chăng ? Không, đó tại vì kẻ học không hằng tâm mà thôi. Nếu họ có
tâm luyện thì họ có học nội hay ngoại công thì cũng « Tam niên tiểu
thành, thập niên đại thành » chứ không để họ đi không rồi lại về không
bao giờ.
Ngoài việc tiệm tiến và hằng tâm ra còn một điều cũng rất là quan
trọng, rất là khó trừ, đó là lòng Dục. Sắc dục là một điều rất có ích
cho thân thể, nếu không biết tiết chế thì tai hại không khác chi mãnh
thú, bão lực. Mãnh thú và bão lụt còn có thể tránh được nhưng sắc dục
không biết đường mà tránh né, người đời lại còn ham mê theo đuổi nữa.
Nhất là những người luyện qua võ nghệ thì tinh khí sung túc lại càng run
động trước sắc dục cho nên khó lòng tránh được. Người bình thường còn
có thể tiêu tinh huyết bằng cách thanh tâm tiết dục, phân tán thần khí
để làm nhược thân thể đi. Còn người tập võ thì Tinh Khí Thần kết tụ nên
càng phải tránh điều sắc dục.
Ba điều trên là ba yếu điểm mà người mới hành công cần lưu lâm, nếu
đã biết rồi mà không tránh khỏi, không làm được, thì thà rằng đừng tập
luyện còn hơn. Chớ có công giây lát cũng không ích được gì cho sự nghiệp
lâu dài.
CHƯƠNG VI
CÁC TRƯỜNG PHÁI THIẾT SA CHƯỞNG
Mỗi cơ thể đều có sự giống và khác nhau, do đó sự luyện tập cũng cần
có chỗ sai biệt để đạt tới thành công. Sự sai khác đó đã làm nẩy sanh
nhiều phái biệt Thiết Sa Chưởng do những kinh nghiệm, chiêm nghiệm các
lối hành công và thành quả khác nhau.
Cận đại, việc nghiên cứu về Thiết Sa Chưởng cho thấy rằng các mô thức
gia truyền tuy có khác nhau mỗi mỗi, nhưng xét kỷ thì thấy người ta
luyện tập theo hai trường phái khác nhau mà thôi.
- Phái thứ nhất chủ việc trực tiếp hành công.
- Phái thứ nhì chủ về gián tiếp hành công.
Người luyện theo phái trực tiếp thì hơi giống phép luyện tay trong
Dịch Cân Kinh. Phương pháp nầy dùng một thùng lớn trong chứa đậu xanh và
đậu đen chừng hơn 10 cân. Khi luyện đứng thế Tôn Mã (ngồi chồm hổm) bên
thùng đậu, rồi hai bàn tay xòe ra thành thế cương đao đoạn ra sức
chuyển gân đâm thẳng vào thùng đậu, nếu có thể đâm đến đáy chậu thì càng
tốt. Khi đâm tới đáy thùng thì dùng sức co ngón tay lại móc đậu lên, từ
từ buông rơi những hạt đậu trong nắm tay xuống trong lúc vận sức vỗ
mạnh chưởng xuống. Như thế là hoàn tất một động tác. Người mới tập điều
thích nghi nhất là mỗi tay không nên tập quá ba kỷ động tác. Hành công
xong nên dùng thuốc ngâm rửa hai bàn tay. Nếu định thời gian tập Sáng,
Chiều, Tối thì hơn một năm đậu xanh và đen trong thùng phần nhiều đã nát
hết rồi. Và phải đổ ra rồi cho vào một nửa đậu xanh và đậu đen cùng
phân nửa thiết sa, tiếp tục luyện công trong một năm nữa thì phân nửa
đậu trong thùng cũng nát hết rồi. Thay đi, lần thứ ba nầy thùng chứa đầy
thiết sa. Luyện thêm một năm công lực đã tiểu thành. Nếu muốn luyện
thêm phải chuẩn bị số thiết sa có cạnh nhọn, gai mới tốt.
Nếu luyện theo phép trực tiếp này thì khi thành công đầu các ngón tay
đều có cục chai nhìn vào biết liền là thuộc người luyện Ngạnh công
(Ngạnh là cứng).
Phép luyện gián tiếp thì khác xa lối trên :
Dùng vải dầy may một chiếc túi (hai lớp vải), dài 9 tấc Tây (bằng ba
thước Ta), rộng 6 tấc Tây, trong chứa đầy đậu xanh và đậu đen (mỗi thứ
một nửa). Khi luyện tập lấy dây treo lên giữa phòng, đứng mã bộ, trước
hết dùng lòng bàn tay vỗ vào bao đậu, sau đến mu bàn tay như vậy gọi là
một kỷ động tác (đánh lòng bàn tay một cái rồi lật lưng bàn tay một
cái). Người mới tập không nên quá 8 kỷ động tác. Tập xong dùng thuốc rửa
bàn tay. Nếu định giờ tập là Sáng và Tối thì hơn một năm đậu đã nát, đổ
ra lấy thêm đậu mới phân nửa bao là thiết sa, phân nửa là đậu xanh và
đậu đen. Tiếp tục tập đến khi đậu nát hết thì lấy ra thay toàn thiết sa.
Luyện hơn năm nữa thì chưởng công đã khá rồi. Phép này nếu luyện tiếp
tục lâu thêm lên nữa đến khi thành đạt vẫn không thấy da chai, trông vào
không biết có tập Thiết Sa Chưởng. Ngoại trừ những cao thủ trong võ lâm
thì mới nhận ra sau khi đã để tâm quan sát kỷ. Phép luyện nầy tuy là
Ngoại công Thiết sa nhưng so với phép trực tiếp thì phép này tốt hơn
hết.
Độc giả đã lượt qua hai cách luyện Thiết sa chưởng hẳn có vị đã thấy
như không có gì lạ và ghê gớm trong cách luyện tập như nhiều người mô
tả. Thật ra là như thế, phép luyện không có gì cầu kỳ hay huyền bí mà
chỉ có chừng ấy. Với những cố gắng thường xuyên và tiết chế mọi dục vọng
mà tuần tự tiến tới như chương trình thì nhất định thành công không khó
chi cả.
Và trong vạn hữu một cá nhân tập luyện không thành thì tại người ấy
chưa hiểu được cái lý của phương pháp mà thực hành sai đi mà ra. Còn
phương pháp bao giờ cũng đúng.
CHƯƠNG VII
CHƯƠNG TRÌNH 100 NGÀY LUYỆN THIẾT SA CHƯỞNG
Hành Công luyện chưởng phải để tự nhiên làm chủ yếu và mới ng có kết quả mà không có hại.
Môn võ công nầy thoát thai từ môn luyện chưởng gián tiếp và hoàn toàn
hơn. Ngoài việc luyện lòng bàn tay (chưởng) và lưng (mu) bàn tay, còn
luyện cạnh bàn tay (chưởng trác), chưởng căn (đầu cườm tay), đầu ngón
tay, đầu các khớp ngón tay khi co lại.
Kình lực cũng đề cập đến phách kình (sức vỗ), ấn kình (sức nhấn, ấn
xuống), suất kình (sức quật xuống), thiết kình (sức chặt, chém) điểm
kình (sức điểm, chấm tới) vv… chớ không chỉ riêng tập Phách kình và Suất
kình không thôi. Nhờ phương pháp tổng hợp có hệ thống hóa nên việc
luyện tập 100 ngày chương trình này bằng 2 năm kết quả của lối tập theo
lối cũ. Với phương pháp hệ thống hóa khi tập luyện thành công da tay vẫn
không bị chai.
A.- PHÉP HÀNH CÔNG
TRANG BỊ : Dùng loại vải dày khó rách may một túi vải hai lớp (túi
vuông) dài 6 tấc Tây, rộng 3 tấc Tây. Trong chứa đầy thiết sa vụn (vụn
sắt nhỏ) nếu không có thiết sa dùng một nửa đậu xanh phân nửa đậu đen
trộn cũng được. Một ghế bằng gỗ cao ngang rốn (rún), mặt ghế bằng ngang,
phẳng, dài và rộng, kích thước phải hơn túi thiết sa. Khi tạo được đủ
dụng cụ nầy và một bình thuốc (xem Chương 11) thì bắt đầu tập Thiết sa
chưởng được rồi.
HÀNH CÔNG : Hành công (luyện) phải lựa chỗ yên tĩnh không quấy phá, ở
phòng riêng là hay nhất. Trước tiên bỏ túi thiết sa nằm thẳng thóm trên
mặt ghế, lập tấn trang nghiêm đối diện và vừa tầm tay. Tấn kỵ mã (xuống
Trung bình tấn) hai nắm tay thu quyền bên hông, thân mình buông lỏng tự
nhiên, tâm yên bình, khí trầm đan điền (điều nầy người mới tập võ hay
tập lâu mà không nghiên cứu thì khó hiểu, nhưng cứ tưởng là mọi nguồn
hơi thở vừa hít được từ mũi đã tụ lại dưới rún, ban đầu thấy khó sau
quen dần) chăm chú nhìn vào bao thiết sa chốc lát hoặc tâm trí đặt chỗ
hư không giây lát (quên mọi việc trước cũng như sau và cả hiện tại).
Đoạn hành công theo phép sau đây :
1. Phách Pháp : (phép vỗ bằng lòng bàn tay, chưởng)
Đang trụ tấn Kỵ mã, bàn tay nhấc cao ngang mày (mắt) (Hình 1) Cánh tay
vô lực để buông rơi chưởng úp xuống bao thiết sa. Nghĩa là toàn thân
mình mềm mại khí huyết lưu thông, cả cánh tay đều để tự nhiên không gồng
lấy sức. Bàn tay tự nhiên buông rơi và vỗ lên bao thiết sa như một vật
tự nó rơi vào lòng đất bởi trọng lực của tự nó và sức hút của quả địa
cầu. (Hình 2)
http://www.tvvn.org/diendan/vbthuvien/editor/assets/tsc02.jpg
2 . Suất Pháp : (phép quật bằng mu bàn tay)
Sau khi bàn tay rơi trọn vẹn trên bao thiết sa, nghĩa là bàn tay đã vỗ
trọn vẹn, hoàn tất động tác, thì nhấc bàn tay lên ngang lông mày (vị trí
ban đần). Rồi buông cho bàn tay tự nhiên rơi xuống, nhưng lần nầy bàn
tay xòe và lật ngửa lòng bàn tay lên trời, mu bàn tay đập (quật trên bao
thiết sa). Ý buông xả của động tác nầy cũng giống như cái vỗ trong
Phách pháp. (Hình 3)
http://www.tvvn.org/diendan/vbthuvien/editor/assets/tsc03.jpg
3. Thiết pháp : (phép chặt, chém, bằng cạnh bàn tay)
Suất pháp đã hoàn tất trọn vẹn, nhấc bàn tay lên sao ngang mày như ban
đầu, tưởng tượng cạnh bàn tay cứng rắn như đã gồng lên (sự thật thì
không gồng), như người đã thành công trong võ học thì hiểu là ý lực đã
được dồn tới cạnh bàn tay, mà ý tới tức lực tới rồi. Nghiêng bàn tay cho
rơi xuống tự nhiên, cạnh bàn tay chém thẳng xuống bao thiết sa mà toàn
cánh tay cũng như toàn thân thể đều đặt trong trạng thái tự nhiên không
gò bó hay cố gắng nào. (Hình 4)
http://www.tvvn.org/diendan/vbthuvien/editor/assets/tsc04.jpg
4. Ấn pháp : (phép nhấn (in) xuống)
Thiết pháp đã hoàn tất, nhấc tay lên ngang mày, rồi buông tay cho rơi
xuống, lần này bàn tay hơi dựng đứng lên chỉ để đầu cườm tay chạm xuống
bao thiết sa. Ý tưởng cũng như những động tác đã học trên. (Hình 5)
http://www.tvvn.org/diendan/vbthuvien/editor/assets/tsc05.jpg
5. Điểm pháp : (phép chấm, chỉa, điểm)
Ấn xong nhấc tay lên, bàn tay cao ngang mày, các ngón tay cong lại như
móng chim ưng hay móng mèo xòe ra vồ mồi, tưởng tượng sức đã đầy và cứng
ở các đầu ngón tay, buông tay cho năm ngón tay rơi xuống điểm trên bao
thiết sa. (Hình 6)
http://www.tvvn.org/diendan/vbthuvien/editor/assets/tsc06.jpg
Năm phép vừa trình bày trên tuần tự kết thành là một Kỷ động tác. Bắt
đầu luyện tập nên lượng sức mình. Phải định thời gian nhất định phải
tập buổi sáng, chiều và tối, hoặc sáng tối cũng được. Mỗi buổi tập một
lần, mỗi lần tập chừng (5) năm kỷ động tác. Luyện xong rồi hành dược
công (ngâm hoặc thoa rửa tay bằng thuốc rượu) xong rồi mới tiếp tục tập
luyện tay kia. Những người tập một tay thì chỉ tẩm thuốc tay luyện mà
thôi.
Ngày nay, trước trào lưu tân tiến nhiều nhân tài xuất hiện sáng lập
nhiều bang phái võ thuật mới rất tiện ích cho thanh niên nhưng không
tránh khỏi vài chỗ sai lầm vì thiếu sót một vài chi tiết trong việc chỉ
dạy võ sinh. Ấy một phần họ ỷ lại vào sức mạnh tráng niên, cho võ sinh
tập quá bạo cho ng có kết quả đề quảng cáo, họ cũng chẳng biết về cơ thể
học và y lý nên đã vô tình đưa hàng vạn môn sinh dần về chỗ nguy khốn
mà không hề hay biết. Nếu những vị ấy chịu khó học hỏi nghiên cứu thêm
chút ít về y lý, y dược, thì chắc là hay cho lớp hậu tấn biết mấy.
Tôi có dịp nhìn qua những môn sinh nhỏ tuổi đầy lòng hăng hái, say
sưa luyện tập, chân đá tay đấm tận lực vào những trụ tập bao cát v.v… mà
đến khi sưng tay trật xương chỉ biết đem đi nhà thương, bệnh nhẹ thì cứ
bóp muối. Trong những buổi dạo chơi như thế lòng tôi rất phấn khởi vui
mừng vì thấy thanh niên ham mê võ thuật, nhưng lại chợt buồn vì thấy
người ta hướng dẫn chưa được vẹn toàn để đa số thanh niên đều mang bệnh
hậu, và trình độ tiến bộ về công chỉ đạt được có phần sơ đẳng rồi không
thể nào vượt được cao hơn. Tôi soạn cuốn sách này là có ý giúp ngầm cho
thanh niên võ sinh mọi môn phái đó.
B.- PHÉP DÙNG THUỐC (Dược Công)
Như đã nói ở những chương trước, tập luyện không thuốc thang thì chớ
nên tập, vì có thành tựu đôi chút mà thân thể đã hóa ra bệnh hoạn rồi.
Mà có thuốc để đó nhưng không biết cách dùng cũng chẳng lợi ích bao
nhiêu. Vậy nên trước khi bắt đầu rèn luyện môn Thiết sa chưởng nên biết
rõ ràng cách Hành công, rồi đến cách sử dụng Dược công, có như thế mới
mới đạt được kết quả mà vô hại. Sau đây là cách xài thuốc rượu (thuốc
ngâm trong rượu) :
Trước mỗi buổi luyện tập (hành công) lấy bình thuốc rượu ra để bên
sân phòng tập, cho tay vào bình ngâm cho thấm đều tay rồi lấy tay ra
(đậy nắp bình lại cho kín hơi) dùng tay còn lại xoa nắn cho nóng toàn
diện bàn tay, xong lại ngâm và xoa bàn tay còn lại. Sau khi đã thi hành
dược công rồi mới bắt đầu tập Thiết Sa chưởng.
Sau khi tập đủ 5 kỷ cho một tay thì cũng phải hành dược công tay đã
tập xong. Kế đến mới bắt đầu tập tay bên, khi xong cũng làm như bàn tay
đã tập trước.
(Ngoài cách dùng rượu thuốc còn cách dùng dấm thuốc và thang thuốc, xin xem chương 11).
Ngoài việc dùng thuốc và biết phép hành công cho đúng phương thức,
còn cần biết vài điều thiết yếu trong lúc đang tập và san khi tập xong.
Những điều phụ thuộc nầy cũng cần yếu không thể thiếu được trong mỗi
buổi tập, do đó võ sinh chờ chễnh mãng xem thường mà đôi khi gặp phải
những chuyện không hay.
Ba điều kỵ khi tập Thiết Sa chưởng :
1) Không được mở miệng trong khi tập, hoặc thở bằng miệng.
Vì lúc tập bụi của thiết sa bay lên, nếu hít vào phổi qua miệng rất nguy
hiểm. Nên khi tập Thiết sa chưởng cần phải có tấm vải sạch trùm mũi và
miệng để che những bụi sắt có hại.
Một vài vị võ sư kinh nghiệm cho biết trong thời gian tập Thiết Sa
chưởng thì cách chừng vài ngay nên ăn một lần huyết heo nấu, luộc chín,
để tinh khiết dạ dày và ruột. Điều nầy không bắt buộc vì nếu chúng ta
bịt khăn che bụi sắt thì đã che đi phần nguy hại rồi, và người dùng chay
thì cũng không thể nào áp dụng nguyên tắc ăn huyết heo được.
2) Kỵ dùng sức nơi cánh tay :
Khi hành công luyện chưởng không nên dùng sức cả cánh tay mà phải để tự
nhiên. Và điều nên nhớ là không bao giờ vận dụng sức mạnh để tập 5 thức
Thiết Sa chưởng : Phách, suất, thiết, ấn, điểm.
3) Kỵ tinh thần bất tập trung :
Luyện chưởng hành công thần bất tập trung và chú ý thì Tắc ý bất chi
(tới nơi), ý bất chi tắc khí bất hành, khí bất hành tắc kình bất quán
(tức không dồn đến được như ý), kình bất quán tắc chưởng lực tất lưu
chuyến ra ngoài.
Điều phải làm sau buổi tập (Dư Công)
Trong suốt buổi tập xuống tấn kỵ mã nên sau khi tập xong trước khi
bước đi nên lấy tay xoa hai đầu gối cho nóng lên rồi định thần lại rồi
mới bước đi từ từ vài vòng, đồng thời duỗi, xòe các ngón tay, nhún chân
lên xuống vài lần để làm dãn các bắp thịt, gân cốt và thông huyết khí
tránh những di hại về sau.
Kiểm chứng thành quả (Thứ Công)
Sau 100 ngày luyện Thiết Sa Chưởng có thể dùng gạch tiểu để đo lường kết quả.
Khởi đầu lấy gạch tiểu vừa đừng cứng lắm, sắp làm ba viên chồng lên
nhau ngay ngắn, dùng Ấn chưởng, trụ tấn Kỵ mã vận sức toàn thân ấn xuống
giữa viên gạch. Gạch gãy thì tiếp tục thử Thiết chưởng, Phách chưởng,
Suất chưởng. Nếu có ván mỏng 5 phân Tây cũng dùng thử như trên.
Mỗi một tác động đủ làm gạch, gỗ tan vở là coi như đã đạt trình độ sơ
thành, đủ dùng vào những việc tự vệ thông thường. Muốn đạt trình độ cao
hơn phải thêm thời gian và công phu luyện tập. Điều nầy đã nói ở phần
trên cuốn sách.
BÍ QUYẾT VÀ CÁCH SỬ DỤNG CHƯỞNG
Bất luận Nội gia hay Ngoại gia quyền, ai ai cũng đều chú trọng đến
chưởng pháp. Đó cũng chỉ vì sự biến hóa vô cùng của nó. Trong mỗi cái
vận chuyển chớp mắt chưởng có thể biến hóa nhiều lắm rồi, có thể Điểm,
Nã, Ấn, làm đối thủ thật khó lòng tìm được cách đón ngăn.
Ngoại gia (người tập về ngoại công) thường đắc ý với đòn “liễu diệp
chưởng”. Nội gia (trường phái tập nội công) thì sở trường ngón “ấn
chưởng”.
Dù rằng những danh từ và cách ra chiêu thức có na ná khác đi đôi chút
đều không ra ngoài môn “Song thôi chưởng pháp” của Nhạc Võ Mục, Song
thôi chưởng của Võ tiên sinh danh trấn giang hồ nhờ cái lý biến hóa như
sau :
- Khuyên (chưởng chuyển động thành vòng tròn)
Khuyên lại phân biệt : Trường (dài), Đoạn (ngắn), Âm, Dương, Trực (thẳng tới), Hoành (ngang), Kỳ (có chính có phụ).
- Thế tác thành hồi hoàn hộ loan (quay tròn trở về che chở).
- Hình như độc xà triền tuyền (như rắn độc cuốn xoáy).
Hai thứ Thế, Hình tương ứng khó đón khó ngăn (thần kỳ mạn trắc). Còn
Trường khuyên tốt nhất dùng đễ triền (vấn quanh) ví như hình loại “Lâu
thủ khuyên” trong “Lâu tất ảo bộ” của môn Thái Cực Quyền (Lâu là ôm,
choàng, dắt, dẫn. Tất là đầu gối).
Đoạn khuyên dùng để che đỡ (lan) tốt nhất. Thí dụ như Hình loại “Phiên Cách Khuyên” trong Hoành quyền của môn Hình Ý Quyền.
Trực khuyên, tốt nhất dùng đỡ công (đánh), ví như hình loại “Xung Kích Quyền” trong Băng quyền của môn Hình Ý Quyền.
Hoành quyền, tốt nhất dùng để thủ, ví dụ như hình loại Khuyên trong “Vân Thủ” của môn Thái Cực Quyền.
Các thức trên có thể tìm thấy trong các cuốn quyền phổ phổ thông có
bán ngoài hiệu sách. Còn về phần biến hóa thì không thể nói vài lời là
có thể thấu hiểu được.
Nếu dùng chưởng phát lực, thì phát lực từ đan điền quán chú (dồn) vào
lòng bàn tay là việc thích đáng nhất. Vì phát lực có ngũ đình (có năm
chỗ ngưng) :
1) Lực ngưng ở vai
2) Lực ngưng cùi chỏ (chẩu)
3) Lực ngưng ở uyển (đầu cổ tay)
4) Lực ngưng ở chưởng (lòng bàn tay)
5) Lực ngưng ở ngón tay (đầu ngón tay, chỉ)
Phép quán (dồn sức), Kình.
Một là dùng khí hoặc dùng kình.
Thiết sa chưởng chuyên vận kình quán quán (dồn sức liên tục) nghĩa là vận được sức vừa dồn được sức tới nơi mình muốn.
Có thể, nếu luyện hết chương trình Trăm ngày nếu đúng phép có thể vận
Kình qua ngũ quan. Lúc phát chưởng công địch có thể tùy ý mà phát kình,
không còn sự ngăn trở nào cả.
Lời dặn khi chiến đấu :
Khi giao chiến không nên dùng chưởng nắm chặt lấy người hoặc áo quần
hay binh khí nào của địch. Vì, bất thật tất hư năng hư bất biến hóa (ý
nói chưởng được rảnh không bận bịu thì biến hóa linh hoạt tùy ý).
Khi ra tay nên dùng đầu ngón tay do xét hư thật, khi ngón tay biết là
thật (chạm địch) thì chưởng Ấn tới nhả Kình. Như vậy nhất định trúng
không thể sai được.
Về phép đánh thì trên không được cao hơn vai, dưới không thấp quá rốn.
Khi phát tay trái thì tay phải thong thả trợ lực.
Khi phát tay phải thì thâu tay trái về để làm tăng kình lực tay công.
Hai tay như thoi đưa, như xé bông gòn : trên, dưới, trái, phải.
Sự vận dụng được tuyệt diệu là nhờ ở tâm.
Khi lãnh hội được lý thì bất luận song chưởng đều xuất : độc chưởng
độc tấn, tâm quan sát tình thế, rồi thế mới dùng Kình. Có như thế thì
phần thắng mới có thể về ta được.
Sau đây là cách sử dụng các kình của Bách nhật chưởng công :
1. Phép sử dụng phách chưởng :
Giả như ta đang đối đầu với một đối thủ :
- Địch bước tới tấn công ta bằng quyền phải ngang trung bộ.
- Thừa khi quyền địch đang lao tới, tay phải ta nắm lấy tay áo địch (chỗ
phía ngoài cùi chỏ) kéo mạnh cho địch về phía sau ta đồng thời phối hợp
chân phải tiến lên phía bên phải địch. Trong lúc địch đang nghiêng
người tới ta vận kình vào lòng bàn tay trái phách đúng huyệt “phượng
hoàng động” ở kẻ hai xương bả vai, nếu trúng địch sẽ thổ huyết ngã xuống
ngay vì huyệt này nằm ngay đầu lá phổi lại bị ta dùng Thiết Sa chưởng
hạ thủ thì việc xảy ra là tất nhiên.
2. Phép sử dụng suất chưởng :
Giả như ta đang đấu với địch :
- Địch tiến lên dùng phách chưởng chém bên phải ta.
- Thừa lúc tay địch đang chém xuống chưa tới, ta dùng hướng thượng xuyên
chưởng để gạt chưởng địch ra đồng thời tấn bộ gấp tới, tay trái vận
kình ấn vào tim địch.
Giả như tay ta chưa đánh trúng mà địch đã dùng cầm nã thủ tay mặt hắn
nắm đúng cùi chỏ trái ta. Ta vận dụng sức ở eo lưng phối hợp với sức
ưỡn về sau của eo trái, vận kình vào mu bàn tay trái đánh một phát suất
kình vào giữa mặt hắn.
3) Thiết chưởng :
Giả như ta đang đấu với địch :
- Địch tấn bộ dùng quyền phải công ta ngay trung bộ.
- Thừa lúc quyền địch chưa tới, chưởng trái ta vận đầy kình đón thế tấn
của địch vỗ mạnh vào phía ngoài cùi chỏ tấn công của địch, cánh tay của
địch bị đánh trúng bị tê liệt ngay, hoặc trật khớp. Nếu muốn bồi thêm
thì né qua trái hắn, chân phải bước tới sau chân phải địch đồng thời vận
đầy kình vào tay chém vào cổ, huyệt Thiên trụ, thế là hết đời.
4) Ấn chưởng :
Giả thiết ta đang đối đầu một đối thủ :
Ta thấy bên phải địch bị hở, ta lập tức tấn bộ bên phải, xuất quyền bên
trái đánh vào huyệt Kỳ môn bên phải địch, nếu quyền ta đánh sắp đến nơi
liền bị tay trái địch gạt ra lại dùng tay phải đánh vào huyệt Kỳ môn ta
thì…
- Thừa lúc địch chưa kịp đánh tới, ta rút lẹ tay trái về, kế tay trái
chuyển ra chụp tay phải địch đồng thời chân trái hoành thoái (lùi ngang)
về phía sau, tay phải vận đầy kình ở chưởng phối hợp nương theo bước
lùi ấn vào huyệt Kỳ môn bên ngực bên trái địch làm địch bị trọng thương.
(Huyệt Kỳ môn nằm giữa xương sườn từ 8 và 9, thuộc can kinh nằm dưới
huyệt Nhủ căn).
5) Chỉ, điểm :
Giả như ta và địch đang đấu :
- Giả như địch tấn công Thiết chưởng vào huyệt Thiên trụ bên phải ta, ta
dùng tay phải để đỡ tay trái địch, đồng thời vận dụng sức nơi eo lưng
chặt lại vào huyệt Thiên trụ của địch. Lúc này nhứt định địch dùng tay
phải đễ gạt tay trái ta, như thế lúc địch đang chủ ý lo đỡ tay trái ta
thì tay phải ta buông xuống, thu về đồng thời tấn bộ sang trái địch lẹ
làng, tay phải vận kình nơi hai ngón trỏ và giữa (song chỉ) điểm vào
huyệt Thiên đột dưới trái cổ địch, làm địch té xỉu, mạnh có thế thiệt
mạng.
CHƯƠNG IX
HỔN NGUYÊN CHƯỞNG C