Đất võ xứ Quảng

0

 Ở vùng đất Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, dưới thời nhà Mạc, ngoài các Tạo sĩ, Tạo toát, võ tướng, danh sư xuất chúng, võ nghệ cao thâm, tiêu biểu có Nguyễn Lễ, Đào Bí, Hồ Công Sùng và các con là Hồ Công Vạn, Hồ Công Bền (đều gốc Điện Bàn, Quảng Nam). Đến thời Lê Trung Hưng, xuất hiện các võ tướng lừng danh, có công lớn với đất “Ngũ Quảng”, như: Hậu Quân Phó tướng Trần Văn Biện, Vệ Úy Diệu Võ Trương Văn Bỉnh, Binh Bộ Nguyễn Đức Thiện… Sau này đến triều Tây Sơn, nhiều Tiến sĩ võ, võ tướng kiệt hiệt đã lập công lớn trong các chiến dịch đánh đuổi ngoại xâm, như Lê Sĩ Hoàng, Đặng Mộng Kỳ, Trương Đăng Đồ, Nguyễn Văn Xuân và em là Nguyễn Thị Dung, Huỳnh Văn Thuận và em là Huỳnh Thị Cúc (bà Dung và bà Cúc đều uyên thâm võ nghệ, có biệt tài sử dụng song kiếm, phi ngựa bắn cung, phóng phi tiễn thiện xạ, đã cùng chủ tướng Bùi Thị Xuân và võ tướng Bùi Thị Nhạn, Trần Thị Lan hợp thành “Tây Sơn Ngũ Phụng Thư”).

Các võ sư, HLV Đà Nẵng thăm võ đường Kỳ Sơn (Hội An) năm 2013

      Cùng thời có anh em Nguyễn Văn Huấn, Nguyễn Văn Danh, đều quê Quảng Ngãi, học trò thầy Trương Văn Hiến và các đại danh sư võ lược kỳ tài ở xứ “Ngũ Quảng”, tác giả bộ sách lịch sử hùng tráng “Tây Sơn Thư Hùng Ký” nổi tiếng và Huỳnh Văn Thuận (gốc Mộ Đức, Quảng Ngãi) văn võ uyên bác, trí huệ cao thông, là “cha đẻ” bộ sách thiên cơ, võ lược bí kiếp “Binh Pháp Tây Sơn” bất hủ. Tương truyền, bộ sách này, ngoài việc kế thừa hai bộ trường thiên binh pháp, võ lược siêu cường “Binh Thư Yếu Lược” của Trần Hưng Đạo và “Hổ Trướng Khu Cơ” của Đào Duy Từ, còn đúc kết kinh nghiệm các trận đại chiến lịch sử, đánh tan các đế chế phong kiến hùng mạnh nhất phương Bắc của bậc Tiên Đế và các bí quyết về “Thiên thời – Địa lợi – Nhân hòa”, về chiến thuật “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ”, các phép binh cơ, quyền pháp, sách lược dụng binh cùng những tuyệt kỹ võ công của nhà Tây Sơn.

      Riêng Lê Sĩ Hoàng (người gốc Quảng Nam), ngay lúc nhỏ, ông đã tỏ rõ tư chất con nhà võ, tính tình cương trực, khẳng khái. Khi lớn lên, ông rất căm ghét bọn quan lại tham tàn, hà hiếp dân lành, nên nuôi chí lớn, chờ thời cơ ra giúp nước. Sau khi vua Quang Trung lên ngôi, nghe tin kinh đô Phú Xuân mở khoa thi võ, ông liền ra Kinh ứng thí. Khoa thi được nhà vua đích thân ngự duyệt, nên khi đến lượt Sĩ Hoàng bước ra đấu trường, trên tay cầm cây đại đao lạ (trên phần sống lưỡi đao có gắn một khoen tròn màu vàng phát ra ánh sáng, còn lưỡi đao có màu đỏ thẫm, nên còn gọi là “Xích Long Đao”, do sư phụ trước khi qua đời truyền lại) tướng đi uy dũng, nét mặt cương nghị, phương phi, nên nhà vua quan sát rất kỹ.

      Sau khi thi xong các nội dung theo quy định, nhà vua truyền lệnh cho tay đao kiệt xuất Trần Quang Diệu ra giao đấu, để vừa thử tài cao thấp, vừa phát hiện những bí quyết của cây “Thần đao” (vì nhà vua cũng là một bậc đại tài về đao thuật). Hai bên giao đấu đến hơn mười hiệp nhưng vẫn chưa ngã ngũ, nhà vua biết Sĩ Hoàng là người tài ba lỗi lạc, muốn thử đức hạnh, tính khí của ông, nên truyền đem cây “Ô Long Đại Đao” của nhà vua ra và bảo Sĩ Hoàng cùng giao đấu với nhà vua. Nhưng Sĩ Hoàng đã cung kính quì tâu: Với Trần tướng quân, thí sinh vẫn chưa thể địch nổi, làm sao thí sinh dám giao đấu với bệ hạ. Nhà vua tỏ ý khen ngợi Sĩ Hoàng là người tài đức vẹn toàn và hết lòng trọng dụng. Về sau, ông lập nhiều công lớn, giúp nhà Tây Sơn đánh dẹp thù trong, giặc ngoài, tiêu diệt nhiều tướng tài của địch.

      Tiếp đến, dưới triều Nhà Nguyễn còn có các Tiến sĩ võ, Cử nhân võ, võ tướng, võ quan, anh hào trung dũng võ nghệ cao thâm, trong đó nổi bậc có: Võ Văn Đức, Phạm Học, Vũ Trường Cung, Nguyễn Bá Gián, Thai Thu, Chánh Lơn, Nguyễn Quang Siêu (Quảng Nam), Bùi Tá Hán, Phạm Văn Tham (Quảng Ngãi).

      Theo các “Khoa Bảng lục” và “Võ Cử qui trình”, dưới thời nhà Nguyễn, đất Quảng Nam có tổng cọng 253 người đỗ Cử nhân, 39 người đỗ Tiến sĩ, Phó bảng, nhưng trong đó chỉ đề danh ba võ tướng, võ quan có học vị cao nhất về Võ Ban, gồm: Phạm Phú Thứ (1821-1882), quê Điện Bàn, đỗ Đệ Tam Giáp Đồng Tiến Sĩ xuất thân năm 24 tuổi, nhưng do tính tình khẳng khái, trung trực, nhiều lần chỉ rõ việc sai của vua, nên bị giáng chức xuống làm lính đưa thư, mãi đến năm 1874 mới cử làm Tổng Đốc Hải Dương; Trần Văn Dư (1842-1885), quê Tam Kỳ, đỗ Đệ Tam Giáp Đồng Tiến Sĩ xuất thân, làm quan trong triều đình, nhưng khi Pháp xâm lăng nước ta, ông từ bỏ quan quyền, vận động nhiều võ quan, danh nhân cùng chí hướng gia nhập phong trào Cần Vương, chống Pháp ngay từ những ngày đầu và lập nhiều công trạng. Ông được các nghĩa sĩ suy tôn làm “Chủ Soái”; Nguyễn Duy Hiệu (1847-1887), quê Cẩm Hà, Hội An, đỗ Cử nhân, sau là Phó Bảng, nhưng với tư chất hiên ngang, cương trực, khí tiết con nhà võ, không chấp nhận sự lộng hành, ức hiếp lương dân của quan quân triều đình, nên lấy cớ mẹ già đau yếu không nơi nương tựa, xin cáo quan về phụng dưỡng mẹ. Khi thực dân Pháp xâm chiếm nước ta, ông tham gia khởi nghĩa Cần Vương, cùng Trần Văn Dư, Phan Bá Phiến, Nguyễn Thành… lập Nghĩa Hội Quảng Nam. Ông trực tiếp truyền dạy võ nghệ, trang bị vũ khí và huấn luyện cách đánh “du kích chiến”, kết hợp với chiến thuật bất ngờ tập kích vào sào huyệt của giặc, thủ tiêu và giết được nhiều quan Pháp, làm cho chúng hoang mang tột độ. Nên sau đó, một mặt chúng xin cấp trên chi viện, mặt khác tập trung toàn bộ lực lượng để truy lùng, tấn công ráo riết, làm cho tổ chức của ông bị tan rã. Ông bị địch bắt và đưa ra hành quyết tại pháp trường An Hòa (Huế), trước lúc lâm hình, ông rất ung dung tự tại “xem cái chết nhẹ tựa lông hồng” và ứng khẩu hai câu thơ:

      Ký ngữ phù trầm tư thế giả

      Hưu tương thành, bại luận anh hùng.

      Sau này, cụ Huỳnh Thúc Kháng dịch:

      Chìm nổi đời này ai đó tỏ

      Chớ đem thành, bại luận anh hùng.

      Về sau, các thế hệ nối nghiệp còn có các võ sư danh tiếng, trong đó có nhiều người lập công lớn trong đánh Pháp, đuổi Mỹ xâm lăng và ra sức gìn giữ, truyền dạy, phát triển VCT dân tộc trong vùng. Nổi bậc có: Võ Đình Hý (Giáo Thiệu), Hồ Văn Tính, Ngô Văn Độ, Lưu Văn Đối, Hồ Tiến (Bốn Cốc), Hồ Điệp, Năm Tường, Hồ Phước, Hồ Cưu, Bùi Thìn, Trương Khả, Trương Chưởng (Đội Chưởng), Hồ Tấn Ba, Bùi Hý, Thái Lẫm, Nguyễn Khê, Tư Phụng, Đỗ Gáy, Hà Sửu, Nguyễn Thời, Lê Kỷ, Lưu Thanh Bình, Lê Hoan, Bùi Nghĩnh (Tám Nghĩnh), Hồ Cập, Chánh Phiến, Ngô Phạt (Hương Sơ), Nguyễn Bầu, Trần Phú Đáng, Phan Vũ Túc, Đặng Văn Vàng, Đặng Ngọc Sách, Ngô Văn Địch, Trần Khương, Trần Sô, Nguyễn Thành Trấn, Trịnh Đông Hải, Đông Sơn, Văn Công Tài, Ngô Ngọc Ẩn, Trần A Hòa, Võ Kiểu, Mã Vĩnh Trinh, Đặng Công Lý, Hồ Doãn, Ngô Đình Quý, Nguyễn Kỳ Tâm, Trần Xuân Mẫn, Phạm Văn Lang, Lê Thông, Hồ Giáo, Nguyễn Cường, Đỗ Tấn Vương, Triệu Nhất Lang, Lý Hoàng, Tấn Cường, Phan Tiên Sanh, Huỳnh Tiến Lập, Phan Vịnh, Hồ Ngọc Anh, Trần Đình Phương, Nguyễn Báng… (Quảng Nam, Đà Nẵng), Lê Chót, Lê Thùy, Tống Oai, Trực Hùng, Trực Ninh, Tấn Hoành, Lâm Võ (Lâm Hiến Giới), Nguyễn Tý (Bảo Truy Phong), Sáu Thụy, Ngô Đình Bông (Ngô Bông), Nguyễn Trần Thành (Tấn Thành), Nguyễn Trần Diêu, Bùi Tá Đợi, Nguyễn Hồng, Hồ Văn Giáo, Nguyễn Trần Lai (Tấn Tương Lai, con trai danh sư Tấn Hoành), Nguyễn Ninh (Phi Hùng), Trần Phú Đáng, Ngọc Cư, Bùi Tá Tưởng…

      Các môn phái Lạc Long Môn, Ngũ Long Môn, Kỳ Sơn, Ngũ Phụng Sơn, Thái Sơn Môn, Quảng Nam Võ Đạo, Trường An, Tấn Tương Lai, Hồ Tấn… và nhiều thế hệ võ sư, huấn luyện viên, võ sĩ tài hoa nối tiếp hết lòng bảo tồn, dựng xây truyền thống VCT dân tộc ngày một đơm hoa, kết trái, xứng danh vùng đất “Ngũ Quảng” trung dũng, kiên cường, thủy chung, son sắc.

 trích đăng nguyên văn từ trang 216 đến 220  sách “Lịch sử võ học Việt Nam” của tác giả Phạm Phong

Share.

About Author

Leave A Reply