Gạp những môn đệ đầu tiên của Sáng tổ ở quê nhà

0

Nửa năm cho suốt cuộc đời

Năm 1947, dời Hà Nội đi tản cư, võ sư Nguyễn Lộc mang vợ con và một vài môn đệ thân tín về quê nhà – xã Hữu Bằng. Những năm đó Hữu Bằng rất thịnh hành môn võ gậy, có lúc trong làng có đến 5 lò dạy môn võ độc đáo này.

Võ sư Nguyễn Lộc về quê mang theo Vovinam ông mới sáng lập truyền dạy cho thanh niên trong làng. Dân làng đã biết những thành công vang dội của môn phái kể từ sau cuộc biểu diễn ra mắt tại Nhà Hát lớn Hà Nội năm 1939 và uy tín của võ sĩ Lộc quê mình từ lâu, nên nhiều người háo hức đến xin thọ giáo, nhưng không phải ai cũng được thu nạp.

Cụ Phan Văn Cửu nhớ lại: Người làng đến xin học rất đông nhưng quá nửa bị loại vì không qua được bài sát hạch. Trước hết, người học võ phải có lòng can đảm, thử thách bằng cuộc chạy chừng 50 mét, khi còn 5 mét nữa thì ngã rạp về phía trước, ngực đập xuống nền cỏ bật nảy lên. Nhiều người không đủ can đảm để vượt qua cú ngã này. Yêu cầu thứ hai là tư cách đạo đức, những người can đảm nhưng hung hăng, tư cách không “thuần” thì cũng không được theo học.

Sau ít ngày sát hạch, võ sư Lộc đã tuyển chọn được dăm chục môn sinh ở độ tuổi thanh niên, có người đã có vợ con, có người mới 17 – 18 tuổi. Hàng ngày các võ sinh chăm chỉ luyện tập dưới sự chỉ giáo của ông và người trực tiếp uốn nắn động tác là võ sư Lê Sáng.

Số võ sinh ngày ấy bây giờ chỉ còn lại năm người sống ở làng, cao tuổi nhất là cụ Nguyễn Đình Tứng (sinh năm 1922) và các cụ Phan Văn Bốc (sinh năm 1923), Phan Văn Cửu và Phan Văn Nhân (sinh năm 1924), trẻ nhất là cụ Nguyễn Đình Dinh (sinh năm 1928).

Bắt đầu mỗi buổi học, võ sinh ngồi nghe võ sư Nguyễn Lộc giáo huấn. Cụ Phan Văn Nhân nhớ lại: Võ sư Lộc là người đẹp trai, cao dong dỏng, mắt sáng, phong cách điềm đạm, hiền hậu giảng giải rất kỹ về đạo đức. Bao nhiêu năm qua, chúng tôi vẫn nhớ như in những lời dạy đó, người học Vovinam không được gây gổ với người khác; khi đối phương cố tình ức hiếp, bắt buộc phải ra đòn thì phải nhường cho đối phương đánh trước; thấy người ta kém hơn mình không được lấn lướt; nhưng đã ra chiêu thì phải giành chiến thắng…

Sau bài đạo lý là những động tác khởi động, khởi động khớp cổ, rồi lộn ngược lộn xuôi, sao cho thân thể mềm dẻo “như bún” mới bắt đầu tập võ thuật. Tập từng đôi một, sao cho thuần thục mới thôi. Hôm nào, ai được võ sư gọi ra hướng dẫn trực tiếp thì nhớ mãi, vừa sợ vừa học được nhiều điều.

Lúc bấy giờ có nhiều người cho rằng, các lò võ có thuốc chữa trị cho không đau. Võ sư Nguyễn Lộc nhắc nhở: Đấy chỉ là những chuyện đồn thổi, quan trọng nhất của người học võ là sự rèn luyện, có rèn luyện chăm chỉ mới có sức khoẻ và võ thuật tinh thông để chiến thắng.

Cụ Phan Văn Nhân, năm nay đã 85 tuổi nhưng mắt còn tinh, vẫn xâu kim được nói: Mắt tôi tinh như vậy vì tôi đã luyện mắt theo hướng dẫn của thầy. Người học võ trước hết phải thể hiện được uy vũ bằng ánh mắt. Khi đối diện đối phương mắt phải sáng quắc, không chớp, để đối phương phải run sợ. Cách luyện là nhìn vào mặt trời buổi sáng. Tập nhiều lần để đạt đến độ nhìn mặt trời không thấy chói mắt, không chớp mắt mới thôi. Mãi sau này tôi vẫn tự tập như vậy…


5 môn đệ đều đã qua tuổi bát tuần của sáng tổ Nguyễn Lộc.

Những miếng võ hộ thân

Trong lớp có những môn sinh xuất sắc như Nguyễn Đình Cắc, Phan Văn Chí… Những vị này ngoài luyện ban ngày, buổi tối còn luyện thêm nên sau này cũng trở thành những võ sư. Ông Nguyễn Đình Cắc đã từng mở lớp dạy Vovinam ở Chùa Thầy, Sài Sơn, Hà Tây.

Nhưng dù biết nhiều hay biết ít thì họ đều rất ít khi thi triển, có người cả đời không dùng đến, vì những lời giáo huấn của võ sư Nguyễn Lộc đã thấm vào máu thịt họ. Cụ Phan Văn Cửu tự hào kể lại: Mấy năm sau đó, do Hữu Bằng là vùng tạm chiếm nên chúng tôi dạt về vùng tự do làm ăn. Một lần ở Cống Thần, nhóm thanh niên Hữu Bằng buôn bán vải sợi bị nhóm thanh niên buôn thuốc bắc Hưng Yên gây gổ do ghen tuông. Hai bên ngồi ăn ở hai dãy bàn trong nhà hàng Đức Long, mặc cho bên kia khích bác, dọa dẫm, bên này vẫn nín nhịn. Tức quá, một tay buôn thuốc bắc lao sang đánh tung mũ của một người Hữu Bằng, ai đó nói to: “Cho nó miếng số hai”, theo phản xạ, ông Cửu vung tay lên gạt, đối phương ngã nhào, mặt đập vào bàn gãy mấy cái răng, máu me be bét. “A, thằng này có võ, ông phải sống chết với chúng mày”. Ông Cửu vẫn điềm đạm: “Tôi không có võ, tôi chỉ gạt anh ra thôi, không may anh ngã gãy răng là do anh. Nếu tôi định đánh thì anh chết rồi”… Thấy bên này điềm đạm, nhã nhặn, bên kia càng hậm hực, hẹn 8 giờ sáng mai ra bãi bóng Chợ Kẹo gần đó “sống mái” một phen. Lời dạy của Võ sư vang lên trong đầu, không thể để đối phương làm nhục, ông quả quyết: “Được rồi, đúng hẹn chúng tôi sẽ có mặt, nhưng trước khi đi các anh nên chuẩn bị sẵn mấy cỗ quan tài”. Sáng hôm sau mấy anh em chờ ở bãi bóng đến tận 10 giờ mà đối phương vẫn mất tăm.

Cụ Nguyễn Đình Dinh cũng kể một kỷ niệm, cũng thời gian đó, cụ và một bạn học võ nữa mở quán hàng ăn ở Quán Mật, gần Cầu Bố, Thanh Hóa. Ở khu vực này có một toán thanh niên ngổ ngáo, côn đồ hay qua lại, ai cũng kiêng dè. Hôm đó bọn chúng vào ăn trong quán nhưng gây sự không trả tiền, dẫn đến cãi vã. Đàn em của chúng kéo đến rất hung hăng, định phá quán, “hai anh em đứng vào thế, tôi thì nhảy phắt lên bàn sẵn sàng đối phó. Bọn chúng hơi sững lại vì bất ngờ… Mấy anh công an chạy vào. Họ nói, “đây là anh em ở Sơn Tây vào đây làm ăn, họ đều là môn đệ của võ sư Lộc, sao chúng mày dám động vào hả”. Mấy thằng kia t
hấy nói thế vội lủi ngay. Té ra, nhiều công an Thanh Hóa từng là môn sinh của võ sư Nguyễn Lộc nên họ rất nể trọng”.

Cụ Phan Văn Cửu cũng đã có lần cùng một người bạn là Nguyễn Đình Cửu (Cửu đen) áp tải 100 xe cút kít chở bông đi bộ từ Vinh ra Nam Định giữa thời buổi phức tạp ấy mà không suy suyển, dù cánh chở thuê đều là tay anh chị, vì bọn họ thấy hai vị tập võ với nhau, thứ võ kỳ lạ họ chưa từng thấy bao giờ.

Không thể nào quên

Sau thời gian ở Hữu Bằng, tình hình không yên ổn, nên Võ sư Nguyễn Lộc và gia đình lại chuyển lên Sơn Tây. Ông dạy võ thuật cho Trường sĩ quan Trần Quốc Tuấn (nay là trường sĩ quan lục quân 1) rồi lại đi Vĩnh Yên. Cụ Phan Văn Bốc kể lại: Lúc đó khó khăn vô cùng, bầu đoàn tản cư lang thang như vậy rất vất vả. Võ sư Nguyễn Lộc dạy võ ở quê nhà đâu có nhận của ai đồng học phí nào. Một người trong đoàn nói: “Đi như đội quân Tàu ô”. Nghe vậy, ông bảo người này thiếu tư cách, một chút khó khăn đã nản lòng nên ông loại ngay.

Đang lúc khó khăn như vậy thì một chủ trang trại lớn nghe danh ông đã mời ông về trang trại để trông nom, bảo vệ giúp. Họ dọn ngay một dãy nhà và đưa đến 70 thùng thóc. Mọi người rất vui sướng vì đã có chỗ trú chân và có công việc ổn định một thời gian. Bất ngờ, hôm sau Võ sư Lộc cho anh em chuyển trả 70 thùng thóc, gửi lời cám ơn ông chủ trang trại và xin đi chỗ khác. Hỏi ra mới biết, trang trại này đã thuê bố con võ sư Quỳnh, nay thấy võ sĩ Lộc giỏi hơn nên họ mới làm vậy. Nếu ông nhận lời thì cha con võ sư Quỳnh sẽ mất việc làm. Điều đó không thể được.

Cụ Bốc trầm ngâm: Thật là một người trọng nghĩa khí vô cùng. Khó khăn như thế mà vẫn hết sức giữ mình.

Lên đến Phú Thọ, có lần võ sư Nguyễn Lộc nói với vợ: “Mợ mặc quần trắng như vậy, ra chợ không may bà con ăn trầu nhổ ra, vô ý bắn quết trầu vào quần thì sao?!”. Bà vợ biết ý, lần sau bà ăn mặc đơn giản hơn để hòa đồng với bà con vùng tản cư.

Do thời buổi loạn lạc, chỉ trong quãng thời gian ngắn ngủi nên những môn đệ của ông ở quê nhà không được thọ giáo nhiều, họ chưa biết đến những tuyệt chiêu của môn phái, những triết lý sâu sắc… nhưng hình ảnh võ sư sáng tổ Nguyễn Lộc, người đồng hương mẫu mực, người thầy, người anh thân thiết của họ thì không bao giờ phai lạt.

Share.

About Author

Leave A Reply