Tây sơn Danh mã & Thần binh

0

I – Tây Sơn ngũ thần mã & Linh phong song thần mã

Tây Sơn ngũ thần mã là năm con chiến mã có tài năng, có lòng trung nghĩa với chủ ở thời Tây Sơn mà mãi sau khi nhà Tây Sơn mất, người Bình Định vẫn tưởng nhớ và coi như thú vật linh thiêng. Năm con thần mã ấy đều có tên ghi vào sử Tây Sơn là cuốn Tây Sơn nhân vật chí của Đinh Sĩ An, một nhân vật nổi danh về văn học, người Bình Khê (Bình Định) đã từng được bổ làm việc ở Nội các vua Quang Trung. Năm con thần mã là: Bạch Long, Xích Kỳ, Ô Du, Ngân Câu, Hồng Lư.

a. Bạch Long

Là ngựa của vua Thái Đức. Vốn là ngựa rừng trên núi Hiển Hách, tục gọi là núi Hảnh Hót ở miền An Khê. Lông trắng như tuyết, bờm và đuôi lông dài, mượt như tờ. Chạy nhanh như gió và nhẹ nhàng như bay. Trông xa như một làn mây trắng vút trong gió. Người dân tộc thiểu số gọi là ngựa nhà trời. Khi Nguyễn Nhạc lên An Khê cổ động người dân tộc thiểu số theo mình khởi nghĩa, người dân tộc thiểu số giao hẹn nếu ông Nhạc bắt được ngựa, thì sẽ theo và hết lòng phụng sự.

Nhờ những kinh nghiệm tháng ngày học nuôi ngựa ở thôn Bằng Châu và lui tới nơi rừng sâu buôn trầu với người dân tộc thiểu số, nên Nguyễn Nhạc đã dùng mưu lấy ngựa cái dụ ngựa rừng.

Ông Nhạc tìm mua một số ngựa cái tơ thật đẹp. Sau khi tập luyện thành thục, hễ nghe tiếng hú thì chạy đến, bầy ngựa cái được đem thả trên núi Hảnh Hót. Được vài hôm, ngựa rừng và ngựa nhà quen nhau. Hễ nghe tiếng hú thì ngựa đồng chạy về, ngựa rừng cũng chạy theo. Nhưng vừa thấy bóng người bèn quay đầu chạy trở lui. Nguyễn Nhạc bỏ cỏ tươi cho ngựa rồi trở về. Ngựa rừng trở lại ăn cỏ chung với ngựa nhà. Hôm sau Nguyễn Nhạc ở lại vuốt ve bầy ngựa nhà. Ngựa rừng đứng xa trông chừng. Dần dần thấy người cùng ngựa quen thân, ngựa rừng một vài con mon men lại ăn cỏ. Sau đó quen dần, ăn cỏ chung với ngựa nhà và cho Nguyễn Nhạc vuốt ve. Sau rốt là con ngựa bạch. Rồi từ đó Nguyễn Nhạc thuần dưỡng được ngựa. Cũng từ đó, người dân tộc thiểu số tại vùng An Khê theo nhà Tây Sơn.

Ngựa trắng được mang tên là Bạch Long Câu theo Nguyễn Nhạc chinh chiến khắp nơi.

Năm 1793, Nguyễn Nhạc mất. Bạch Long Câu ban đêm vượt tàu ngựa chạy thẳng một mạch về núi Hảnh Hót. Từ đó rừng núi Hảnh Hót đêm đêm vang tiếng ngựa thần hí lên nhớ người chúa cũ.

b. Xích kỳ

Là ngựa của tướng quân Nguyễn Văn Tuyết.

Ngựa lông đỏ tía, kỳ và lông đuôi dài màu đen huyền. Ngựa vốn dòng Bắc Thảo, sức mạnh ngày đi vạn dặm không đổ mồ hôi, chạy nhanh như gió. Xích Kỳ vốn của chúa Nguyễn Phúc Khoát được nước Cao Miên (Campuchia) tặng làm cống vật. Chúa Võ vương rất yêu thích, nhân đi tuần du phương nam đến Quy Nhơn bị Nguyễn Văn Tuyết vào chuồng cướp đi. Một mình một ngựa, Tuyết đang đêm phi thẳng lên Kiên Mỹ theo phò Nguyễn Nhạc lập được nhiều công lớn.

Năm Mậu Thân (1788) Xích Kỳ vượt ngàn dặm từ Thăng Long đưa Nguyễn Văn Tuyết về Phú Xuân cấp báo tình hình quân Mãn Thanh vào Hà Nội.

Năm Nhâm Tuất (1802), thành Thăng Long bị tấn công, Đại Đô đốc Nguyễn Văn Tuyết cùng phu nhân hộ giá vua Bửu Hưng cùng cung quyến qua sông Nhị Hà lên phương Bắc. Đến Xương Giang bị vây. Trong trận này con Xích Kỳ cùng với Đô Đốc Tuyết xông pha giữa muôn quân và cả hai đều trúng đạn tử trận.

c. Ô Du

Là ngựa của tướng Đặng Xuân Phong. Sắc lông đen nhánh như mun, bốn chân thon nhỏ như chân nai. Có tài leo núi hay vượt qua các ghềnh núi đá chập chùng. Khi chạy trên núi cao thì tài nghệ mới phô bày, người cưỡi như ngồi trên đất bằng. Ngựa mang tên Ô Du vì sắc lông đen, có hình dạng và bộ đi giống như cọp. Nhờ Ô Du mà Đặng Xuân Phong ra trận đầu liền chiếm được Thăng Bình và Điện Bàn.

Sau khi Nguyễn Bảo, con vua Thái Đức bị giết, Đặng Xuân Phong liền từ quan trở về quê quán rồi trở đi nơi khác. Ô Du cũng theo chủ đi biệt tích.

d. Ngân Câu

Là ngựa của bà Bùi Thị Xuân, tục gọi là ngựa Kim. Ngựa có sức mạnh và tài đi trong đêm tối. Dù trên đường đi có hầm hố, trở ngại, ngựa vẫn chạy mau như ban ngày trên đường trường. Người đời bảo rằng dưới chân ngựa có mắt sáng để đi trong đêm tối. Nhờ có tài kỳ diệu này mà Ngân Câu đã phi nhanh trong trận phục kích Rạch Gầm khiến tướng Xiêm là Lục Côn không kịp phản ứng đã bị nữ tướng Bùi Thị Xuân chém bay đầu một cách dễ dàng như Quan Vân Trường cưỡi Xích Thố chém Huê Hùng đời Tam Quốc bên Tàu.

Trong trận Đâu Mâu cũng nhờ con Ngân Câu mà Bùi Thị Xuân đã cứu được vua Bửu Hưng…

Khi miền Bắc lâm nguy, Trần Quang Diệu bỏ Quy Nhơn ra Nghệ An để giải cứu. Vì phải đi đường thượng đạo nên Quang Diệu mang trọng bệnh mà bị bắt sống tại Hương Sơn. Bùi Thị Xuân ở Diễn Châu hay tin, giục Ngân Câu vượt đường dài đến Giáp Sơn thì gặp quân đang áp giải Quang Diệu và Văn Dũng. Tả xông hữu đột, bà cứu được chồng, cùng cưỡi chung lên lưng Ngân Câu chạy về Thanh Hóa. Nhưng đến sông Thành Chương thì Ngân Câu bị đạn tử thương. Hai vợ chồng Trần, Bùi bị bắt trở lại và bị giải về Nghệ An.

e. Hồng Lư

Là ngựa của tướng Lý Văn Bưu. Lông sắc hồng, hình vóc giống ngựa thường. Đầu Hồng Lư giống đầu lừa, mình ốm o như đói cỏ, bốn chân cao lỏng chỏng như chân nai. Tánh tình hay giở chứng, muốn đi thì đi, muốn chạy thì chạy, không ai có thể điều khiển được theo ý muốn. Chỉ riêng có chủ là Lý Văn Bưu mới điều khiển được dễ dàng. Họ Lý cưỡingựa không bao giờ dùng yên cương, ông chỉ điều khiển bằng đôi chân. Khi thì bắp vế, khi thì ống chân, khi thì gót chân, giống như dân da đỏ ở Châu Mỹ vậy.

Hồng Lư tuy dị tướng song chạy nhanh, bền bỉ và khôn ngoan. Khi ra trận không cần chủ điều khiển, ngựa tự biết tiến lui theo ý chủ. Chỉ một nhịp nhẹ của đôi chân Hồng Lư biết phi như tên bắn, bay theo quân địch đang tìm đường trốn chạy. Hồng Lư biết vượt qua chướng ngại vật để chận đầu ngựa địch, để cho chủ xử lý địch thủ một cách gọn gàng.

Trừ các con thần mã: Bạch Long, Xích Kỳ, Ô Du, Ngân Câu thì các con ngựa khác đều khiếp sợ Hồng Lư khi Hồng Lư hí lên một tiếng, các con ngựa chung quanh đều cụp tai, cúp đuôi hoặc lồng lên cắm đầu bỏ chạy, nhờ Hồng Lư mà Lý Văn Bưu đã tổ chức được một đoàn kỵ mã cho nhà Tây Sơn và cũng nhờ sự có mặt của Hồng Lư trong đoàn kỵ mã mà đoàn ngựa khiến không những không sợ đàn tượng binh của bà Bùi Thị Xuân mà còn phối hợp khi giao tranh với quân địch.

Hồng Lư luôn luôn có mặt cùng với Lý Văn Bưu khắp các nơi trận tuyến. Khi họ Lý theo vua Quang Trung ra Bắc tảo trừ quân Mãn Thanh thì Hồng Lư cũng được tham gia trận đánh ở Nhân Mục Thanh Trì và đánh đồn Khương Thượng.

Khi Cảnh Thịnh lên ngôi, Bùi Đắc Tuyên chuyên quyền, triều chính Tây Sơn đổ nát thì Lý Văn Bưu xin được lui về quê quán. Còn Hồng Lư theo chủ trở về với thiên nhiên núi đồi.

***********************************

Ngoài Tây Sơn ngũ thần mã, còn có con Bằng Châu Kỳ Mã của Đinh lão ở Bàn Châu cũng được xem như một con ngựa quý.

Ở Bình Định trong thời kỳ Văn Thân có hai con ngựa cùng nổi danh là Linh Phong song tuấn mã.

Đó là hai con ngựa Hồng và ngựa Ô của nguyên soái Mai Xuân Thưởng và Quản trấn Trần Nhã.

* Con ngựa hồng của Mai Nguyên Soái

Khoa Ất Dậu (1885), Mai Xuân Thưởng đậu cử nhân. Trên đường về quê, qua Thú Thiện nghe lời khuyên thâm thúy của một nhân sĩ, nên lặng lẽ bỏ võng lọng đi nẻo tắt về nhà. Trên đường đi Mai công gặp một ông lão ngồi bên lề đường trông coi một con ngựa ốm o đang ăn cỏ. Dừng chân hỏi thăm mới biết ông lão đang dẫn ngựa đi bán, song vì còn quyến luyến con vật nên muốn cho nó ăn no một bữa trước khi xa nhau. Cảm động trước tình lão trượng đối với ngựa, Mai công bèn hỏi mua ngựa. Sau một thời gian chăm sóc con ngựa béo tốt và được luyện tập trở thành một con tuấn mã.

Con Hồng mã theo Mai công tham gia nhiều trận chiến. Trong trận Bàu Sấu, lực lượng địch tấn công quá mạnh. Trận Bàu Sấu là một trận thủy bối, hai mặt đều có núi non và mặt sau là một cái bàu nước sâu và rộng. Nghe đồn rằng tại đây có nhiều cá sấu, nên bàu mang tên là Bàu Sấu. Dùng thế trận thủy bối là cốt để chỉ có một phương chống giặc, lưng và hông khỏi bị tập kích. S
ong khi lâm vào tình trạng nhất thế thì thủy bối lại trở thành hiểm nguy cho bước đường rút lui.

Đa số quân sĩ đành phải nhảy xuống nước thoát thân. Mai nguyên soái bị trúng đạn. Máu ướt đẫm nhung y. Con ngựa Hồng như một luồng mống đỏ chở Mai nguyên soái chạy xuống mép bờ bàu, rồi tung mình nhảy xuống nước, bơi một mạch qua khỏi bàu, rồi lên đường thẳng chạy về Phú Lạc.

Sau ngựa Hồng theo Nguyên soái vào Linh Đổng rồi cùng nguyên soái quy hàng. Trên bước đường chịu nạn ngựa Hồng luôn luôn theo bên chủ. Bọn quan lại tại thành Bình Định muốn đoạt lấy ngựa song khi Mai nguyên soái bị bắt cầm tù thì ngựa bỗng bỏ ăn. Mỗi ngày chỉ gặm một vài túm cỏ nên thân hình trở nên cằn cỗi như thuở mới gặp chủ. Hơn nữa hễ ai đến gần thì ngựa hí lên và cắn đá, nên không ai cưỡi được.

Ngày Mai Nguyên soái thọ hình ở Gò Chàm, ngựa Hồng có đến tham dự. Trời đổ mưa tầm tã, tiếng ngựa Hồng hí lên lồng lộng. Sau cơn mưa, không còn ai trông thấy bóng ngựa đâu cả.

Ngựa hồng đã trở về mật khu Linh Đổng.

* Con ngựa ô của Quản Nhã

Ông Quản Nhã nguyên quán làng Trường Định, huyện Bình Khê (Tây Sơn), tên thật là Trần Tấn theo Mai Xuân Thưởng được cử làm Quản Trấn cùng các ông Võ Phong Mậu chức vụ Tham Trấn, Nguyễn Trọng Trì làm Hiệp Trấn, đồng trấn thủ Hương Sơn. Ông Tham Mậu người thôn Thuận Hạnh đồng huyện với ông Quản Trần. Tuy đồng huyện với nhau, nhưng không ưa nhau vì tâm tánh mỗi người một khác. Tham Mậu là một nhà nho, đậu cử nhân, song tánh thâm hiểm mưu mô, lại háo kỳ, háo sắc, háo tiền. Mặc dù thân ở giữa ba quân mà thói phong lưu vẫn đeo theo canh cánh bên mình. Ông Quản Trần, trái lại, tánh nóng nảy vì võ nhiều văn ít song trung trực can trường, lại ghét thói phong lưu như nhà nông ghét cỏ, mặc dù là một phú hộ dám đem cả tiền lúa sẵn có ra nuôi nghĩa quân, ông Trần thường đem lời ngay thẳng ra chỉ trích Tham Mậu. Tham Mậu rất ghét, rất căm, nhưng chưa có dịp để hãm hại.

Một hôm đương đi tuần, ông Trần được tin một toán nghĩa quân bị giặc Pháp đột kích, viên chỉ huy bị tử trận, liền hối hả chạy vào dinh Tham Trấn cấp báo. Thấy Tham Mậu đang cùng Hiệp Trấn Nguyễn Trọng Trì ngồi đánh cờ, ông Trần nổi giận hét:

– Giặc đến không lo, tướng chết không tiếc. Cả ngày chỉ rượu với cờ!

Nói đoạn sấn tới giật bàn cờ ném ra sân.

Đã căm ghét sẵn, lại bị xúc phạm mạnh, Tham Mậu liền hét quân bắt trói Quản Trần. Ông Trần đang giận càng giận thêm, không còn kể chi đến quân luật, vừa la hét vừa tung quyền, cước đánh quân lính ngã lăn, hết lớp này đến lớp khác. Tham Mậu phải huy động đến cả một đội vũ trang mới bắt được Quản Trần. Tham Mậu buộc tội ông Trần là phản loạn, truyền đem chôn sống tức thì. Hiệp trấn Nguyễn Trọng Trì tuy không có hiềm khích chi với ông Trần, song bị làm mất thể diện trước ba quân, nên làm lơ để Tham Mậu hạ độc thủ.

Quản Trấn Trần Tân có nuôi một con ngựa Ô. Truyền rằng con ngựa Ô này thuộc dòng giống con Ô Du của Đặng Xuân Phong thời Tây Sơn. Khi chú cháu nhà Tây Sơn diệt lẫn nhau, họ Đặng từ quan vào núi mai danh ẩn tích, con Ô Du cũng đi theo vào rừng. Sau đó vùng Tây Sơn có người đi rừng cưỡi theo ngựa cái và sau về ngựa sinh được một con ngựa Ô. Trần Tân mua được một con thuộc giống Ô Du.

Ngựa Ô được chủ chăm nom cẩn thận và được quý như người thân. Trước khi khởi nghĩa, Trần Tân đã quen biết với Mai Công. Ngựa Hồng và ngựa Ô cũng trở thành thân thiết, thường đi song song với nhau.

Khi thấy chủ bị nạn, con ngựa Ô liền bứt dây cương chạy thẳng một mạch về Trường Định báo nguy. Hương Sơn ở giữa Trường Định và An Chánh, cách nhà ông Trần chừng một cây số. Người nhà thấy ngựa chạy về dậm chân hí thảm thiết, chưa biết chuyện gì thì có người tâm phúc đến báo tin dữ, bà Trần liền cho người lên Phú Phong, cách Trường Định độ bốn cây số, cáo cấp cùng Mai Nguyên Soái.

Con ngựa Ô chở người đi trong khoảnh khắc thì đến. Mai Nguyên Soái phi ngựa xuống Hương Sơn. Con ngựa Ô phi song song với con ngựa Hồng, vượt qua sông Côn đến nơi chủ bị chôn sống. Quản Trần được đào lên thì chỉ còn ấm ấm nơi ngực, cứu chữa mấy cũng không hồi sanh. Vừa thương vừa giận, nhưng người vắng mặt bao giờ cũng có lỗi, thêm nữa nước nhà đang cần người, Mai Nguyên Soái đành gạt lệ cắn răng, cho đưa di hài cố nhân về nhà chôn cất.

Con Ô theo linh cửu ra đến mộ, nước mắt ra ròng ròng!< /p>

Chôn cất xong, người về hết, ngựa ở lại, đói ra gò ăn cỏ, khát xuống bàu uống nước, ngày đêm cứ quanh quẩn bên mồ của chủ nhân. Đến ngày làm tuần thì chạy về nhà giây lát rồi trở ra. Tuần nào cũng vậy, đến tuần thất thất, ngựa chạy về nhà cất cổ hí dài một tiếng, rồi chạy ra mộ hí thêm một tiếng dài nữa. Tiếng hí ai oán não nùng. Đoạn chạy thẳng lên chiến khu Linh Đổng, sống cùng con Hồng của Mai Nguyên Soái.

Sau khi nghĩa quân tan rã, Mai Nguyên Soái về thần, con Ô và con Hồng đem nhau vào Linh Đổng.

Trong nơi mây khói mịt mờ, không còn ai trông thấy bóng dáng. Song những đêm trăng sáng trời trong, nơi phần mộ của Mai Nguyên Soái và của Trần Quản Trấn, người ta thường nghe tiếng ngựa hí.

Người địa phương có câu:

Ngựa đâu tiếng hí mơ màng

Người nay thổn thức can tràng người xưa.

Còn Tham Mậu?

Mất Hương Sơn, Võ Phong Mậu và Nguyễn Trọng Trì chạy thoát. Nguyễn Trọng Trì đi lánh nạn cho đến khi có lệnh đình chỉ bắt bớ dư đảng Cần Vương mới trở về làng. Còn Võ Phong Mậu thì liền ra đầu thú, sau ngày Mai Nguyên soái tuẫn quốc và được giặc bổ đi làm Huấn Đạo. Ít năm sau xin về hưu trí ở Thuận Hạnh. Một đêm, nghe tiếng sột soạt ở đầu hè liền mở cửa ra xem thì một con cọp tàu cau lớn bằng một con bò đực, nhảy đến vồ. Tham Mậu kêu cứu, láng giềng chạy đến. Cọp liền vật Tham Mậu xuống đất, móc cuống họng, bỏ xác Tham Mậu lại rồi đi. Người ta bảo rằng đó là ông Trần mượn cọp báo oán.

Ông cử nhân Huỳnh Bá Văn có viết một bản tuồng hát bội nhan đề là Mãi Tiêu Thứ (thường gọi là tuồng Thứ) diễn tả hành vi và tánh tình của Tham Mậu.

Những câu chuyện trên, các bậc phụ lão, bên nữ cũng như bên nam, không mấy ai không biết và những kẻ hậu sinh nhiều người cũng được nghe nhắc đến luôn.

Đi ngang qua Hương Sơn, cổ bàn nhân có mấy vần cảm tác:

Bình Tây dù chẳng thành công

Hương Sơn để tiếng anh hùng nghìn thu

Giận ai cưu mối tư thù

Cho gương phấn dũng bị lu ít nhiều

Chuyện đời có nhạt màu rêu

Mùi hương chính khí gió chiều thoảng đưa.

 

II – Tây Sơn Thần Binh

 

Triều đại Tây Sơn có nhiều danh tướng đã làm vang danh các vũ khí được sử dụng trong sự nghiệp dựng nước. Nổi danh nhất là Tây Sơn thập thần vũ khí.

Đó là mười món binh khí có những đặc điểm phi thường: một thanh thần kiếm, hai cây thần côn, ba thanh thần đao và bốn cây thần cung của các danh tướng Tây Sơn.

1. Độc thần kiếm:

Là thanh cổ kiếm của Nguyễn Nhạc, tình cờ mua được lúc đi buôn trầu trên thượng nguồn sông Côn. Nguyễn Nhạc đem về tặng cho thầy Trương Văn Hiến. Trương Công biết là một báu kiếm nên đem cất thật kỹ. Khi Nguyễn Nhạc đã xây dựng xong cơ sở chiến đấu, xuống An Thái thăm thầy và vấn kế, Trương Công bèn trao lại thanh gươm để dùng cho đại sự. Gươm dài hơn sải tay, chém sắt như chém chuố
i; lưỡi gươm ra khỏi vỏ, ánh hào quang tỏa ra loa mắt. Người dân tộc vùng Tây Sơn thượng đạo theo Hỏa thần, tin là thanh kiếm của thần ban cho nhà vua nên gọi là kiếm thần và gọi ông Nhạc là Vua Trời.

Để làm cho lòng người thêm tin tưởng, ông Nhạc bèn bày ra một cảnh tượng kiếm trời cho. Nguyên một hôm, Nguyễn Nhạc cùng bộ hạ ở An Khê về đến Hoành Sơn thì ngựa Nguyễn Nhạc lồng lên, rồi thẳng cổ phi nước đại. Đến chân núi phía trong gò Sặt, cương ngựa bị đứt Nguyễn Nhạc té nhào xuống ngựa, trật chân không đứng dậy được. Đám tùy tùng chạy đến xoa bóp hồi lâu mới bớt. Khi đứng dậy để lên ngựa thì Nguyễn Nhạc chợt thấy chuôi kiếm ló ra nơi vách đá trên sườn núi. Sai người lên xem thì là một thanh cổ kiếm, lưỡi sáng như nước. Ai nấy đều mừng là kiếm trời ban. Do tích được kiếm của Nguyễn Nhạc tại đây nên núi mang tên là hòn Kiếm Sơn.

Trong ngày khởi nghĩa, Nguyễn Nhạc lập đàn cáo trời đất tại nghẹo Cây Khế nơi đèo An Khê, dưới bóng 2 cây đại thọ: Cây Ké, Cây Cầy. Khi đại quân đến gần tế đàn thì từ trên cây Ké một con rắn bò xuống, thân lớn bằng cột nhà, sắc đen nhánh như hạt huyền, người đương thời gọi là Ô Long nằm cuộn nơi đường đi. Quân không dám tiến. Nguyễn Nhạc bèn xuống ngựa tuốt gươm, vái cùng trời đất rồi chém bay đầu rắn. Nhờ vậy gươm linh lại thêm lừng lẫy.

2. Song thần côn

Là hai cây côn của hai tướng Võ Đình Tú và Đặng Xuân Phong.

a. Ngân côn

Cây ngân côn của tướng quân Võ Đình Tú màu trắng được rèn bằng bạch thiết, rất chắc và khá nặng, phải đến hai người khiêng.

b. Thiết côn

Cây thiết côn của tướng quân Đặng Xuân Phong màu đen, cũng nặng như cây ngân côn.

Ngân côn và thiết côn chỉ lớn bằng cổ tay, dài quá đầu, song lại rất nặng. Khi lâm trận côn múa lên, ngân côn tạo thành một đạo bạch quang, thiết côn tạo nên một luồng hắc quang. Đường côn đi đến đâu, vũ khí của đối phương văng lên tứ phía, thây người ngã rạp như rạ gặp bão.

Vì danh vang khắp nơi nên đích thân nữ tướng Bùi Thị Xuân đã thêu hai lá cờ để tặng “Ngân Côn Tướng Quân” cho Võ Đình Tú và “Thiết Côn Tướng Quân” cho Đặng Xuân Phong.

3. Tam thần đao

Là ba cây đại đao của Nguyễn Huệ, Trần Quang Diệu và Lê Sĩ Hoàng, có tên Ô Long đao, Huỳnh Long đao và Xích Long đao.

a. Ô Long đao

Là tên đao của Nguyễn Huệ. Truyền rằng một hôm Nguyễn Huệ đi tuần nơi đèo An Khê, khi cùng anh là Nguyễn Nhạc lo xây dựng cơ đồ khởi nghĩa. Để tạo nên một không khí thần linh, Nguyễn Huệ đã loan tin là trong dịp đi tuần này có hai con rắn mun to lớn đón đường dâng đao rồi từ tạ vào rừng. Tại nơi rắn dâng đao, Nguyễn Huệ cho lập miếu thờ gọi là Miếu xà.

Thanh Ô Long đao, cán bằng gỗ mun đen nhánh, lưỡi đao cũng bằng một loại kim khí màu đen. Khi đao ra khỏi vỏ thì khí lạnh tỏa ra một vùng khá rộng. Thanh đao không có hào quang mà chỉ có khí lạnh, đồng thời sắc bén vô cùng. Trọng lượng rất nặng, phải một người vác mới nổi.

Trong trận Rạch Gầm, Xoài Mút năm Giáp Thìn (1785) Nguyễn Huệ đã sử dụng thanh Ô Long đao chém tướng quân Xiêm lên đến hàng trăm người. Đao loan đến đâu vũ khí và đầu người rụng đến đó. Rồi đến năm Kỷ Dậu (1789) lại một lần nữa thanh Ô Long đao lại đẫm máu quân Thanh xâm lược.

b. Huỳnh Long Đao

Là thanh đao thần của tướng quân Trần Quang Diệu. Đao thần do sư phụ Trần Quang Diệu là võ sư Diệp Đình Tòng truyền tặng. Sở dĩ có tên Huỳnh Long là vì tại đầu con cù nơi ngậm lưỡi đao được thép vàng.

Cặp song đao Ô Long và Huỳnh Long phối hợp tung hoành trong trận đánh quân Xiêm tại Rạch Gầm, Xoài Mút. Các chiến công của Trần Quang Diệu đều do thanh Huỳnh Long góp phần tạo nên.

c. Xích Long Đao.

Là thanh đao của tướng Lê Sĩ Hoàng. Sở dĩ có tên là Xích Long đao vì tại đầu con cù ngậm lưỡi đao sơn màu đỏ.

Nguyên sau khi dẹp xong quân Mãn Thanh, vua Quang Trung mở hội thi võ để chọn thêm nhân tài giữ nước.

Lê Sĩ Hoàng, người quê Quảng Nam ra kinh ứng thí. Hoàng dũng sĩ, lúc nhỏ nhà nghèo, chăn trâu cho một Phú ông trong thôn. Nhà gần núi nên một hôm trâu bị cọp bắt. Hoàng sợ chủ bắt đền. Chạy trốn vào núi sâu. Lạc đường không tìm được lối ra, gặp được dị nhân truyền thụ võ nghệ. Lê có sức mạnh hơn người, võ nghệ tuyệt luân, chuyên sử dụng cây đao Xích Long của sư phụ truyền cho.

Năm Quang Trung thứ hai (1789) khoa thi võ đầu tiên tại kinh đô Phú Xuân, Lê Sĩ Hoàng ra ứng thí. Thấy tài năng vượt trội, lại chuyên sử dụng đại đao nên vua Quang Trung sai Trần Quang Diệu ra tỉ thí. Hai thanh đao Huỳnh Long và Xích Long như đôi rồng hợp nhau múa lượn, người xem vỗ tay hoan hô vang dậy. Hai bên bất phân thắng bại. Vua Quang Trung cao hứng, truyền đem Ô Long Đao ra để tỷ đấu cùng Lê võ sinh. Lê Sĩ Hoàng cung kính quỳ tâu:

– Với Trần tướng quân, hạ thần còn chưa địch nổi, huống chi bệ hạ.

Nhà vua đắc ý, vỗ vai họ Lê, cười nói:

– Khanh là Hứa Chữ của ta đó!

Rồi cởi chiếc cẩm bào đương mặc, ban cho Lê Sĩ Hoàng.

 

4. Tứ Thần cung

Là bốn cây cung nổi danh thời Tây Sơn: Thiết Thai cung, Vỹ Mao cung, Liên Phát cung.

a. Thiết Thai cung

Là cung của tướng Nguyễn Quang Huy, người Phú Yên, thiện dụng cây ngân câu (móc câu bạc) ưa cưỡi bạch mã. Huy có sức mạnh lại giỏi võ nghệ, tinh thông binh pháp, Vua Thái Đức rất ái trọng, phong làm Phòng ngự sứ vào trấn Bình Thuận.

Cây Thiết Thai cung có cánh cung làm bằng thép, có nòng bằng sắt, nên trọng lượng rất nặng, sức bắn xa gấp ba, bốn lần cung thường.

Nguyễn Quang Huy trước trấn Bình Thuận, sau bị Nguyễn Phúc Ánh đánh chiếm nên phải lui về thủ Phú Yên. Năm Kỷ Mùi (1799) thành Quy Nhơn bị Nguyễn Phúc Ánh vây hãm, Nguyễn Quang Huy kéo quân ra cứu Quy Nhơn. Nguyễn Quang Huy đánh rất hăng. Một ngày đánh bại 25 viên tướng của Nguyễn Phúc Ánh. Phúc Ánh lấy làm lạ lên thành đứng xem. Quang Huy tả xung hữu đột giữa muôn quân như Triệu Tử Long ở trận Đương Dương Trường Bản, ngó thấy Nguyễn Phúc Ánh đứng trên thành, bèn dùng Thiết Thai cung bắn trúng cánh tay trái. Phúc Ánh té nhào bất tỉnh. Vì vết thương này mà Nguyễn Phúc Ánh phải rút về Gia Định để dưỡng thương.

b. Vĩ Mao cung:

Là cung của văn thần La Xuân Kiều, người huyện Phù Cát, văn thơ Nôm, Hán đều thông suốt. Lại giỏi cưỡi ngựa, bắn cung hay. Họ La có một cây cung đặc biệt làm bằng gỗ quý, dây cung bện bằng lông đuôi ngựa. Khi dây cung bật, một âm thanh trong trẻo du dương phát ra, tên phóng ra rất mạnh. Âm thanh vừa dứt thì đích đã trúng hồng tâm. Nhờ cây Vĩ Mao cung mà La Xuân Kiều nổi danh là một xạ thủ đương thời.

c. Kỳ Nam cung:

Là cung của tướng quân Lý Văn Bưu. Cung có một cấu trúc đặc biệt. Giữa nơi cánh cung, chỗ tay cầm có tháp gỗ quý Kỳ Nam. Bởi vậy cho nên khi treo cung nơi phòng thì hương trầm thơm ngát khắp nhà. Lúc dùng nơi trận địa, hương trầm làm tăng nội lực nên Lý Văn Bưu bắn trăm phát trăm trúng. Càng bắn nội lực càng tăng, tên càng trúng đích.

Lúc còn đang xây dựng cơ sở cho nhà Tây Sơn, tại dãy núi Ninh Thuận, huyện Tây Sơn bây giờ, có một con cọp tàu cau, to lớn như con trâu mộng, rất hung dữ và lại tinh khôn, thường hay xuống bắt bò heo và luôn cả người nữa. Lúc đầu thì hổ đi săn bắt ban đêm, sau lại phá phách luôn cả ban ngày. Chẳng những có sức mạnh mà da hổ lại quá dày, cứng đến độ giáo mác dâm không lủng. Dân l
àng thuê đám thợ săn cọp và các võ sĩ có danh để trừ hổ, song tất cả đều thất bại. Lớp chết lớp trọng thương.

Lý Văn Bửu được tin, mang cung Kỳ Nam tìm vào rừng sâu để diệt trừ hổ dữ. Gặp được hổ, họ Lý trương Kỳ Nam cung bắn một phát vào đầu cọp. Tên xuyên từ mắt phải ra đến sau ót. Cọp còn hăng sức xông đến. Lý Văn Bưu tiếp liền hai phát. Tuy da hổ cứng rắn song tên vẫn xuyên ngang cuống họng và yết hầu. Cọp giãy giụa một hồi lâu mới chết. Trong các trận Nam chiến, đánh nhau với quân Xiêm và Bắc chiến với quân Mãn Thanh, cây Kỳ Nam cung cũng đã ra sức giúp Lý Văn Bưu lập được nhiều chiến công.

d. Liên Phát cung:

Là cung thần của Đặng Xuân Phong. Cánh cung làm bằng thép có độ cứng và đàn hồi cao nên sức bật rất mạnh. Nhờ ở sức mạnh và tài luyện tập, Đặng Xuân Phong có thể bắn một lần 5 mũi tên và bắn liên tiếp.

Một hôm, Bùi Thị Xuân đứng ở trường trầu Kiên Mỹ, trông thấy một tráng sĩ trẻ tuổi cầm côn đồng, mang cung sắt, cưỡi ngựa ô, từ hướng làng Thuận Nghĩa chạy lên Phú Lạc, thái độ hiên ngang nhưng tướng mạo trung hậu. Đến hòn Trưng Sơn, tráng sĩ phi ngựa lên núi. Đường sá gập ghềnh nhưng ngựa chạy như trên bình địa.

Một bầy quạ bay ngang qua, tráng sĩ gương cung bắn hai phát: hai con quạ rơi xuống. Tiếp theo 5 phát nữa: lại 5 con rơi như lá rụng.

Biết là người có tài, bà Bùi Thị Xuân sau khi thăm dò gốc tích, đã cùng với Võ Đình Tú đến tận làng Dõng Hòa kết bạn và mời tham gia đại sứ, xây dựng nhà Tây Sơn.

Ngoài Tây Sơn thập thần vũ khí, Bình Định còn có thanh đại đao của tướng Lê Đại Cang. Cây đao nổi tiếng đã từng giúp cho Lê tướng công dẹp yên giặc Miên bình định Trấn Tây Thành.

Share.

About Author

Leave A Reply